vanban.org

Bản án 29/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Huy phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 29/2019/HS-ST
Ngày 21/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Xuân.

2. Bà Phạm Kim Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/QĐXXST-HS ngày 07/6/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn H, sinh năm 1996 tại tỉnh Hậu Giang; nơi đăng ký HKTT: KVz, Phường x, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: 12/2B tổ z, ấp 1, xã x, Huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Ngô Thanh Ph và bà Lữ Ngọc D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2019 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h00’ ngày 02/3/2019, Ngô Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Havico BKS-51L7-8923 đến khu trường tiểu học Nguyễn Bình thuộc ấp 2, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh gặp và mua của một người tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 đoạn ống nhựa màu vàng bên trong có chứa ma túy tổng hợp với giá 200.000đồng. Sau khi mua được ma túy, H cầm ở tay rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà ở xã z, Huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị tổ tuần tra Công an xã z, Huyện Nhà Bè phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 ống nhựa màu vàng bên trong có chứa tinh thể không màu và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Havico, BKS 51L7-8923. Tại Kết luận giám định số 658/KLGĐ-H ngày 11/3/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1709 gam, loại Methamphetamine”. Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-NB ngày 29/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy Methamphetamine thu giữ của bị cáo H. Trả lại cho bị cáo Ngô Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 23h20’ ngày 02/3/2019, tại khu vực trước số nhà n đường Nguyễn Bình, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Ngô Văn H đang có hành vi cất giữ 0,1709 gam ma túy, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Phú Xuân, Huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

Khối lượng ma túy Methamphetamine thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu vật giám định, khối lượng ma túy còn lại là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Havico, BKS 51L7-8923 do bà Văn Ngọc Đài đứng tên chủ sở hữu. Ngày 15/6/2016 bà Đài đã bán xe cho anh Lữ Thành C (cậu ruột của H) nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 02/3/2019, H mượn chiếc xe này của anh C sử dụng, sau đó H dùng làm phương tiện đi mua ma túy, anh Công hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại chiếc xe trên cho anh Lữ Thành Cô Đối với chiếc điện thoại di động Iphone thu giữ của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. [3] Đối với người đã bán ma túy cho Ngô Văn H do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Điều tra Công an Hện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau. [4] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1413 gam ma túy tổng hợp Methamphetamin. Trả lại cho bị cáo Ngô Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Toàn bộ vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Nhà Bè theo phiếu nhập kho số NK033 ngày 27/5/2019. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Văn H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ