- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HS-ST. Ngày: 13/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Bùi Văn Lịch
Bà: Đặng Thị Thu Hương
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 30/2019/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/HSST- QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn T - Sinh năm: 1993; Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn P- Sinh năm: 1962; Con bà: Trần Thị D -Sinh năm: 1969.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 14/3/2017 bị TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2019 đến ngày 21/5/2019 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 18/5/2019, bị cáo đi nhờ xe máy từ nhà lên khu vực chợ năm tầng, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định với mục đích mua heroin để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi gặp một người đàn không quen biết, bị cáo hỏi mua 2.000.000 đồng tiền heroin, người đàn ông đồng ý bán. Bị cáo đã đưa 2.000.000 đồng, người đàn ông đó nhận tiền và đưa cho bị cáo 01 hộp nhựa màu trắng bên trong đựng 20 gói heroin được gói bằng giấy màu trắng. Bị cáo nhận 20 gói heroin rồi đi xe buýt về nhà. Khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáo đang ở nhà thì Đỗ Văn Q đến hỏi mua 200.000 đồng heroin, Bị cáo đồng ý bán và hẹn Q ra sân đình thôn Đ, xã N. Khoảng 5 phút sau, bị cáo ra sân đình gặp Q. Q đưa cho 200.000 đồng, bị cáo nhận tiền và đưa cho Q 01 gói heroin được gói bằng gói giấy màu trắng. Q nhận gói heroin định đi về thì bị lực lượng công an huyện Nam Trực phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên người của bị cáo 01 hộp nhựa bên trong đựng 19 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và 200.000 đồng; Thu giữ của Đỗ Văn Q 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng niêm phong ký hiệu là M, Công an huyện Nam Trực tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 480/GĐKTHS ngày 20/5/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M và K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: heroin. Khối lượng mẫu M: 0,030 gam; khối lượng mẫu K: 2,284 gam.
Đối với Đỗ Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,030 gam heroin chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Nam Trực đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Văn T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được lai lịch nên tách ra để điều tra xử lý sau.
Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 29/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1,5 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đỗ Văn T từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù. Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2019 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của Đỗ Văn Q, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/5/2019; biên bản khám xét ngày 18/5/2019; bản kết luận giám định số 480/GĐKTHS ngày 20/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 18/5/2019 tại nhà sân đình thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo Đỗ Văn T có hành vi bán trái phép 01 gói heroin có khối lượng 0,030 gam cho Đỗ Văn Q lấy 200.000 đồng, thu giữ trên người của T 19 gói heroin có khối lượng 2,284 gam với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và trật tự an toàn xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.
Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội. Bản thân bị cáo mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân, vì vậy cần phải phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số tiền 200.000 đồng là do bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; Số hêroin đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2019 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
Đối với người đàn ông đã bán heroin cho Đỗ Văn T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên cơ quan điều tra tách ra để điều tra và xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Đỗ Văn T 48(Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 18/5/2019.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 5.000.000 đồng.
2.Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2019 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
3.Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Đỗ Văn T phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Nam Định; -VKSND tỉnh+huyện; -Chi cục THADS huyện Nam Trực; -Công an huyện Nam Trực; -UBND xã N; -Bị cáo; -Lưu HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |