vanban.org

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố quan hệ sống chung giữa ông L.V.Ng.

Về con chung: Tên L.Tr.Nh.(nữ) sinh ngày 01/01/1994 đã trưởng thành lao động được, ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. 3/Về tài sản chung và nợ chung: Ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố quan hệ sống chung giữa ông L.V.Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 29/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2019
“Về việc không công nhận quan hệ vợ
chồng.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Ông Triệu Khánh Long.

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Tâm, cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Phân, Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2018/TLST-HNGĐ ngày 26/12/2018. Về việc “yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông L.V.Ng., sinh năm 1972;

Địa chỉ: số 244, khóm Đai Trị, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Bà L.Th. H., sinh năm 1972;

Địa chỉ: số 244, khóm Đai Trị, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

(Nguyên đơn, bị đơn có mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện (yêu cầu tuyên bố quan hệ sống chung không phải là vợ chồng) ngày 17/12/2018 cũng như ý kiến khi tham gia họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn L.V.Ng. trình bày: Vào năm 1992, ông L.V.Ng. có sống chung như vợ chồng cùng với bà L.Th. H., nhưng không có đăng ký kết hôn. Ông Ng. và bà H. cùng sống chung với nhau tại khóm Đai Trị, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Cuộc sống chung hạnh phúc một thời gian, ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. đã có với nhau một người con chung tên L.Tr.Nh.(nữ) sinh ngày 01/01/1994. Do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn, nên cuộc sống chung không còn hòa hợp làm cho tình cảm ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, cuộc sống chung mâu thuẫn trầm trọng không thể giải tỏa được nên không thể tiếp tục chung sống được với nhau. Nay ông L.V.Ng. yêu cầu Tòa án giải quyết, không công nhận quan hệ sống chung với bà L.Th. H. là quan hệ vợ chồng.

- Về con chung: Ông L.V.Ng. không yêu cầu Tòa án giải quyết vì con đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: hai bên đã tự thỏa thuận, ông L.V.Ng. không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 09/05/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn L.Th. H. trình bày: Bà sống chung với ông L.V.Ng. vào năm 1992 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Sau lễ cưới bà H. và Ông Ng. sống tại khóm Đai Trị, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Hai người sống chung với nhau rất hạnh phúc và đã có với nhau một người con chung tên L.Tr.Nh.(nữ) sinh ngày 01/01/1994 hiện nay đã trưởng thành. Do cuộc sống chung sau này Ông Ng. không quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến bà H. và Ông Ng. thường phát sinh mâu thuẫn cự cải với nhau nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không thể tiếp tục sống chung được. Do đó, bà H. đồng ý với yêu cầu của ông L.V.Ng. về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ sống chung giữa bà H. và ông L.V.Ng. không phải là quan hệ vợ chồng.

- Về con chung: Do con đã trưởng thành bà H. không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H. và Ông Ng. đã tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố không công nhận quan hệ sống chung giữa ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. là quan hệ vợ chồng; về con chung đã trưởng thành không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung, nợ chung do nguyên đơn và bị đơn tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, Ông Ng. yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không phải là quan hệ vợ chồng. Quan hệ pháp luật nêu trên được pháp luật điều chỉnh tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn đã xác lập cuộc sống chung vào năm 1992 trên tinh thần tự nguyện và đã có với nhau một người con chung nhưng không đăng ký kết hôn. Xét lời thừa nhận về tình trạng hôn nhân của ông L.V.Ng. và L.Th. H. có trong hồ sơ vụ án; căn cứ Biên bản xác minh về quan hệ hôn nhân của ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. tại phường Vĩnh Phước thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tại (bút lục số 29); căn cứ vào Sổ hộ khẩu gia đình mà nguyên đơn cung cấp cho tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn L.V.Ng. về quan hệ sống chung như vợ chồng giữa Ông Ng. và bà H. nhưng không đăng ký kết hôn là sự thật, quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 92 bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, giữa Ông Ng.và bà H. đang tồn tại quan hệ hôn nhân không hợp pháp, nên phải chịu sự điều chỉnh của Pháp luật.Vì vậy cần phải căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết, tuyên bố quan hệ sống chung giữa ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không phải là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. đã có với nhau một người con chung tên L.Tr.Nh.(nữ) sinh ngày 01/01/1994 đã trưởng thành lao động được, Ông Ng. và bà H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. tự thỏa thuận không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn L.V.Ng. phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 2 Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố quan hệ sống chung giữa ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không phải là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Tên L.Tr.Nh.(nữ) sinh ngày 01/01/1994 đã trưởng thành lao động được, ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/Về tài sản chung và nợ chung: Ông L.V.Ng. và bà L.Th. H. không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn ông L.V.Ng. phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004061, ngày 26/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, L.V.Ng. đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ