- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28 Điều 35; 39; 147; 271; 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 29/2019/HNGĐ-ST. Ngày 07/05/2019. V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Khiết.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Tạ Văn Doanh.
2/ Ông Trần Đăng Thanh.
Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2019/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 03 năm 2019 về việc tranh chấp “ Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXX-ST, ngày 16 tháng 04 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hiệp, Sinh năm 1972 (Có mặt).
Bị đơn: Anh Đỗ Tuấn Cương, Sinh năm 1971 (Có mặt).
Đều chung địa chỉ: Tân Tiến, Trù Hựu, Lục Ngạn, Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ Thị Hồng Vân, sinh năm 1995 (Có mặt).
Nơi cư trú hiện nay: Khu Quang Trung, thị trấn Chũ, Lục Ngạn, Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 01/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị Hiệp trình bầy: Chị và anh Đỗ Tuấn Cương được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi vào ngày 16/12/1991 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới chị và anh Cương về sống chung với nhau ngay, tình cảm hòa thuận hạnh phúc. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là trong quá trình sống chung chị và anh Cương không hợp nhau, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, không tôn trọng lẫn nhau nói không ai nghe ai. Ngoài ra theo chị anh còn có quan hệ ngoại tình với người đàn bà khác dẫn đến cuộc sống không có hạnh phúc, tình cảm ngày càm mâu thuẫn trầm trọng hơn, không thể hàn gắn được nữa. Chị và anh Cương không còn quan hệ tình cảm nữa và đã ly thân nhau từ đầu năm 2014 đến nay, chị Hiệp thấy tình cảm không còn, nguyện vọng xin được ly hôn anh Cương, nhưng không đăng ký kết hôn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Con chung: Chị và anh Cương sinh được một con chung Đỗ Thị Hồng Vân, sinh ngày 03/4/1995, hiện nay cháu Vân đã trưởng thành, có sức khỏe tốt và đã có gia đình riêng, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết và có một người con nuôi tên là Đỗ Ngọc An Nhiên, sinh ngày 01/8/2017. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nhiên, Đề nghị anh Cương phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh số tiền 3.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu Nhiên trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tài sản chung, riêng, công nợ, đất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 29/3/2019 cùng các tài liệu tiếp theo cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Đỗ Tuấn Cương trình bầy: Anh thừa nhận như chị Hiệp trình bầy là đúng, anh và chị Lê Thị Hiệp có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi vào ngày 16/12/1991 theo phong tục tập quán địa phương, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới anh và chị Hiệp về sống chung cùng nhau ngay tại thôn Tân Tiến - Trù Hựu - Lục Ngạn - Bắc Giang, tình cảm ban đầu hòa thuận hạnh phúc. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân trong cuộc sống hàng ngày không tôn trọng lẫn nhau, nói không ai nghe ai. Anh và chị Hiệp đã sống ly thân nhau từ năm 2014 đến nay không quan hệ gì nữa. Chị Cương khởi kiện xin ly hôn anh nhất trí, nhưng không có đăng ký kết hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Con chung: Anh và chị Lê Thị Hiệp sinh được một con chung chung Đỗ Thị Hồng Vân, sinh ngày 03/4/1995 hiện nay cháu Vân đã trưởng thành, có sức khỏe tốt và đã có gia đình riêng, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết và có một con nuôi tên Đỗ Ngọc An Nhiên, sinh ngày 01/8/2017. Sau khi ly hôn, chị Hiệp có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nhiên anh nhất trí, tại phiên tòa, anh nhất trí cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hiệp với mức 3.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi cháu Nhiên trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tài sản chung, riêng, công nợ, đất ruộng nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên cháu Đỗ Thị Hồng Vân trình bầy: Cháu là con mẹ Lê Thị Hiệp và bố Đỗ Tuấn Cương, nguyện vọng cháu mong muốn bố mẹ đoàn tụ, nếu bố mẹ vẫn cương quyết xin ly hôn nhau cháu tôn trọng. Nay cháu đã trưởng thành, có gia đình riêng nên không yêu cầu đề nghị bố mẹ phải nuôi dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết về trích chia công sức, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật.
* Đại diện VKSND huyện Lục Ngạn tại phiên Toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án sau:
+ Thủ tục tố tụng: Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án cũng như các đương sự tại phiên tòa đều chấp hành đúng qui định tại: Các Điều 191; 195; 196; 205; 208; 209; 210 và Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+Nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 1 Điều 53; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương.
Về con chung: Chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương sinh được 01con chung: Đỗ Thị Hồng Vân, sinh ngày 03/4/1995 và có một con nuôi Đỗ Ngọc An Nhiên, sinh ngày 01/8/2017 cháu Vân đã trưởng thành, chị và anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng và thống nhất để chị Hiệp nuôi dưỡng cháu Nhiên. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Hiệp và anh Cương, buộc anh Đỗ Tuấn Cương phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hiệp với số tiền 3.000.000 đồng/ 01 tháng kể từ tháng 5/2019 đến khi cháu Nhiên trưởng thành đủ 18 tuổi.
+Tài sản và công nợ: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+Án phí: Áp dụng Điều 147/BLTTDS; Điều 6; 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Chị Lê Thị Hiệp phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình, Xác nhận chị Lê Thị Hiệp đã nộp 300.000đ theo biên lai thu dự phí số: AA/2018/0005339, ngày 06/3/2019 tại Chi cục THADS huyện Lục Ngạn. Anh Đỡ Tuấn Cương phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn nhận định:
Thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và cho đến nay các đương sự đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào ngày 16/12/1991, sau ngày cưới chị Hiệp và anh Cương về sống chung với nhau ngay. Chị Hiệp và anh Cương đều thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân trong cuộc sống không tôn trọng lẫn nhau, không hợp nhau, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người một ý, không ai nghe ai. Chị Hiệp và anh Cương đã ly thân nhau từ năm 2014 đến nay không còn quan hệ tình cảm với nhau nữa. Nay tình cảm giữa chị và anh Cương không còn, chị khởi kiện xin ly hôn anh Cương nhất trí. Xét thấy chị Hiệp và anh Cương sống chung với nhau như vợ chồng có quyền được đăng ký kết hôn, nhưng không đăng ký kết hôn như vậy là vi phạm khoản 1 Điều 14 và khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Hiệp vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn, anh Cương cũng nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hiệp đề nghị giải quyết là có căn cứ cần được chấp nhận xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương.
Về con chung: Chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương đều xác định sinh được một người con chung Đỗ Thị Hồng Vân, sinh ngày 03/4/1995 và có một con nuôi Đỗ Ngọc An Nhiên, sinh ngày 01/8/2017. Chị Hiệp và anh Cương đều xác định cháu Vân con anh chị đã trưởng thành và đã có gia đình riêng, cháu vân không yêu cầu về nuôi dưỡng và trích chia cong sức nên không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với cháu Đỗ Ngọc An Nhiên, chị Hiệp và anh Cương cùng thống nhất để chị Hiệp tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhiên, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên cần tôn trọng sự thỏa thuận của anh chị giao cháu Đỗ Ngọc An Nhiên cho chị Hiệp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Cương có quyền được thăm nom con không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về tài sản riêng, chung, công nợ, đất nông nghiệp: Các bên đương sự tự giải quyết không đề cập Tòa án xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Hiệp phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình. Anh Đỗ Tuấn Cương phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28 Điều 35; 39; 147; 271; 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 14; khoản 1 Điều 53; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Điều 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án; Xử:
Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa: Chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương.
Về con chung: Cháu Đỗ Thị Hồng Vân, sinh ngày 03/5/1995 đã trưởng thành. Chị Lê Thị Hiệp và anh Đỗ Tuấn Cương đều không yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng nên không đặt ra xem xét.
Giao cho chị Lê Thị Hiệp tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Ngọc An Nhiên, sinh ngày 01/8/2017. Anh Đỗ Tuấn Cương có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Về Tài sản riêng, chung, cụng nợ, đất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về Án phí: Chị Lê Thị Hiệp phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình. Xác nhận chị Lê Thị Hiệp đã nộp đủ 300.000đ( ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu dự phí số: AA/2018/0005339, ngày 06/03/2019 tại Chi cục THADS huyện Lục Ngạn, nên không phải nộp nữa.
Anh Đỗ Tuấn Cương phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Về Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hiệp, anh Đỗ Tuấn Cương, cháu Đỗ Thị Hồng Vân có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện, tỉnh; - TAND tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Quý Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà. Lê Văn Khiết |