- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng, anh T tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đối với anh Nguyễn Trọng T.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN LN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/DS-ST Ngày 17-10-2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái
Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Định- Thư ký Tòa án nhân dân huyện LN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thẩm thụ lý số: 23/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2019; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số15/TB-TA ngày 25 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank)
Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền khởi kiện: Ông Phạm Tuấn A1- chức vụ Phó giám đốc Trung tâm pháp luật ngân hàng SME và cá nhân.
Người được ủy quyền lại: Ông Trịnh Thế A (có mặt)
Địa chỉ: Tòa nhà Việt Long, số 34 đường Lý Thái Tổ, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
-Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn TM, xã TD, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Q, sinh năm 1996 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn TM, xã TD, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 01/12/2018 và các bản tự khai, biên bản lấy lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) do ông Trịnh Thế A đại diện theo ủy quyền trình bày: Theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử vay vốn (LD1707501261), ngày 16/3/2017 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) có cho anh Nguyễn Trọng T ký vay của Ngân hàng thời hạn vay là 25 tháng. Số tiền vay là 105.000.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng tín dụng, VP Bank đã giải ngân đủ số tiền 105.000.000 đồng cho anh Nguyễn Trọng T nhận đủ số tiền trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía anh Nguyễn Trọng T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ tháng 5/2017 với mức lãi suất nợ quá hạn. Ngân hàng đã yêu cầu nhiều lần nhưng anh Tuấn không thanh toán số tiền còn nợ. Ngày 23/3/2019 anh Tuấn trả cho Ngân hàng được số tiền gốc là 2.875.962 đồng, tiền lãi là 3.125.448 đồng. Tổng cộng là 6.001.410 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Trọng T phải thanh toán số tiền còn nợ gốc tính đến ngày 17/10/2019 là 102.124.038 đồng và tiền lãi là 130.882.962 đồng, lãi phạt chậm trả là 17.975.111 đồng. Tổng cộng gốc, lãi và lãi phạt chậm trả là 250.982.111 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay ông Trịnh Thế A đại diện cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
*Bị đơn anh Nguyễn Trọng T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Q được Tòa án giao và tống đạt thông báo thụ lý vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn anh Nguyễn Trọng T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án chị Bùi Thị Q không đến Tòa án làm việc từ chối khai báo.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Trọng T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Q vắng mặt lần hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành các quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank).
Buộc anh Nguyễn Trọng T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) số tiền gốc còn nợ là 102.124.038 đồng, tiền lãi là 130.882.962 đồng, lãi phạt chậm trả là 17.975.111 đồng. Tổng cộng gốc, lãi và lãi phạt chậm trả là 250.982.111 đồng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Ngày 21/3/2019, Tòa án nhân dân huyện LN thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) với bị đơn anh Nguyễn Trọng T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Q là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Trọng T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án chị Bùi Thị Q đang có nghĩa vụ trả gốc và hàng tháng phải trả lãi Ngân hàng nhưng anh Nguyễn Trọng T và chị Bùi Thị Q đi khỏi nơi cư trú, không thông báo Ngân hàng và cũng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú. Tòa án xác minh tại địa phương xác định anh Nguyễn Trọng T, chị Bùi Thị Q có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng đi làm ăn xa, không thông báo cho địa phương biết địa chỉ nên địa phương không biết anh Tuấn, chị Quỳnh đi đâu, làm gì, thỉnh thoảng anh Tuấn, chị Quỳnh có về nhà ở thôn TM, xã TD vài ngày song lại đi, lịch trình đi về không cố định. Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ nhiều lần tại nơi cư trú của anh Tuấn, chị Quỳnh và đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật, nhưng anh Tuấn, chị Quỳnh không đến Tòa án để viết bản tự khai, hòa giải và cung cấp chứng cứ. Anh Tuấn, chị Quỳnh cố tình che giấu địa chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Ngân hàng.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Trọng T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Q vắng mặt lần hai không có lý do. Nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp: Ngày 16/3/2017 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) có ký Hợp đồng tín dụng LD1707501261 cho anh Nguyễn Trọng T ký vay vốn của Ngân hàng số tiền vay là 105.000.000 đồng thời hạn vay là 25 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng tín dụng, VP Bank đã giải ngân đủ số tiền 105.000.000 đồng cho anh Nguyễn Trọng T nhận đủ số tiền trên. Phía gia đình anh Nguyễn Trọng T không có đăng ký kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía anh Nguyễn Trọng T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Ngày 01/12/2018 Ngân hàng đã khởi kiện đến Tòa án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, có kỳ hạn, có lãi suất quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nội dung: Ngày 16/3/2017 Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) và anh Nguyễn Trọng T có ký hợp đồng tín dụng số LD1707501261, với mức tiền vay là 105.000.000 đồng thời hạn vay là 24 tháng, với lãi suất trong hạn ghi trong hợp đồng tín dụng là 34%, lãi suất quá hạn là 51% thời hạn vay là 25 tháng, mục đích vay để tiêu dùng. Sau khi giao tiền, phía anh Tuấn đã nhận tiền đầy đủ, nhưng đến hạn trả nợ thì anh Nguyễn Trọng T chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng vay vốn. Do vậy Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Trọng T phải trả số tiền gốc còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc, lãi và lãi phạt chậm trả là 250.982.111 đồng. HĐXX xét thấy yêu cầu trên của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) buộc anh Nguyễn Trọng T phải trả số tiền gốc còn nợ Ngân hàng là 102.124.038 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận.
Về yêu cầu tính tiền lãi là 130.882.962 đồng, lãi phạt chậm trả là 17.975.111 đồng của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, HĐXX xét thấy: Theo điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử anh Nguyễn Trọng T ký ngày 16/3/2017 thì: “Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu tiền phạt chậm trả, số tiền phạt chậm trả được tính theo công thức sau: Số tiền lãi chậm trả x số ngày chậm trả x 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm quá hạn/ 360…” Quy định này phù hợp với luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật, quy định cho tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu về lãi suất, và số tiền phạt chậm trả lãi của Ngân hàng dựa trên thỏa thuận tự nguyện của anh Nguyễn Trọng T khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng với VPBank là phù hợp với quy định của pháp luật và quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lãi và cách tính lãi được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng nên được chấp nhận.
Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Do bị đơn anh Nguyễn Trọng T vắng mặt tại phiên tòa nên không thỏa thuận được lãi suất chậm thi hành án, lãi suất chậm trả thực hiện theo mức đã giao kết trong Hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
Về chi phí đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng có đơn đề nghị Tòa án đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Trọng T, chị Bùi Thị Q. Tòa án đã tạm thu số tiền 3.000.000 đồng và thanh toán với Ngân hàng xong nên cần buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng phải chịu khoản tiền chi phí đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo khoản 2 Điều 385 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên cần buộc anh Nguyễn Trọng T phải chịu: 250.982.100 đồng x 5% = 12.549.100 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng 4.550.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003881 ngày 21/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, khoản 4 Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đối với anh Nguyễn Trọng T.
2. Buộc anh Nguyễn Trọng T trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng ( theo Hợp đồng tín dụng số LD1707501261 ngày 16/3/2017) tổng số tiền tính đến ngày 17/10/2019 là: 250.982.100 đồng; trong đó nợ gốc là 102.124.038 đồng, nợ lãi là 130.882.962 đồng, lãi phạt chậm trả là 17.975.111 đồng.
3. Buộc anh Nguyễn Trọng T tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày 18/10/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LD 1707501261 ngày 16/3/2017 cho đến khi anh Nguyễn Trọng T thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
4. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Trọng T phải chịu 12.549.100 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 4.550.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003881 ngày 21/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện LN; - Chi cục THADS huyện LN; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |