vanban.org

Bản án 29/2019/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần các yêu cầu khởi kiện của ông Chung Il G đối với

bà Lê Thị Ngọc Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp quyền sở hữu tài sản trên đất”; chấp nhận yêu cầu của ông Chung Il G đối với bà Lê Thị Ngọc Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”: Tuyên bố giao dịch dân sự thỏa thuận cấn trừ tài sản đề ngày 25/12/2008, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Chung Il G và bà Lê Thị Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần các yêu cầu khởi kiện của ông Chung Il G đối với
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 128 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2019/DS-ST
Ngày 30-10-2019.
V/v “T/c: Quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản trên đất và hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Thiện;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Hoa, Thư ký Tòa

án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh

Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

273/2017/DSST ngày 23 tháng 8 năm 2017, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và hợp đồng vay tài sản”; thụ lý bổ sung yêu cầu “Tranh chấp quyền sở hữu tài

sản trên đất” ngày 22 tháng 12 năm 2017; thụ lý bổ sung yêu cầu “Tranh chấp

quyền sở hữu tài sản trên đất” ngày 08 tháng 10 năm 2018; theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số: 43/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2019. Do Bản án phúc

thẩm dân sự số 237/2016/DS-PT ngày 23/9/2016, của Tòa án nhân dân tỉnh Tây

Ninh và Bản án sơ số 27/2016/DS-ST ngày 27/6/2016, của Tòa án nhân dân Huyện

Dương Minh Châu, bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử

giám đốc thẩm, Quyết định giám đốc thẩm số 134/2017/DS-GĐT ngày 24/7/2017,

hủy giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

để xét xử sơ thẩm lại giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Chung Il G, sinh năm: 1953; Quốc tịch: Hàn Quốc, địa

chỉ: 202, 287 – 6 G – don, EUN - U, KOREA; địa chỉ tạm trú: Số A, đường 30/4, tổ 11, khu phố B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Văn P, sinh năm

1964, địa chỉ: Khu phố 1, phường 4, thành phố N, tỉnh Tây Ninh (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 05/01/2016) (có mặt).

Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm: 1961, địa chỉ: Số C, Tổ 1, ấp L, xã N,

Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng xét xử mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện, và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và

người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2001 ông Chung Il G có đầu tư vào Việt Nam, mục đích để nuôi

trồng thủy sản nên ông có sang nhượng đất của bà Lâm Thị Huỳnh Đ diện tích 15.775m2; ông Nguyễn Văn D diện tích 4.705m2; bà Nguyễn Thị N diện tích 9.230m2; tổng diện là 29.710m2.

Khi sang nhượng thì phần đất của ông D, bà N chưa có giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất (QSDĐ) nên ông Chung Il G và những người sang nhượng có thỏa thuận sau khi giao nhận tiền đất xong và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì giấy đất đưa ông Chung Il G giữ, (do ông Chung Il G không đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ được. Đến ngày 15/9/2004 ông Chung Il G được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cấp giấy phép thành lập Công ty Co - V.

Sau khi thỏa thuận với các hộ dân chuyển nhượng QSDĐ đất xong, ông

Chung Il G tiến hành xây dựng nhà xưởng, nhà ở, ao cá, giếng nước, điện và tiến hành việc nuôi trồng thủy sản (trên đất tranh chấp).

Ngày 22/10/2008, ông Chung Il G làm giấy sang nhượng đất cho bà Đ và

ngày 24/10/2008 ông Chung Il G và con trai là Jung Tea I làm đơn xin cam kết giao cho bà Đ đứng tên và toàn quyền quyết định toàn bộ diện tích đất 29.710m2; đến ngày 30/10/2008 thì bà Đ đã được Ủy ban nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 29.710m2.

Ngày 11/11/2008 ông Chung Il G và bà Đ có làm tờ thỏa thuận: Nội dung

nhờ bà Đ đứng tên dùm giấy chứng nhận QSSĐ diện tích là 29.710m2, ở mục 01 ghi do bên A (ông Chung Il G) đang làm thủ tục giải thể công ty; ở mục 03 ghi khi bên A có nhu cầu chuyển nhượng, tặng cho QSDĐ cho người khác thì bên B (bà Đ) sẵn sàng ký tên vào các văn bản để chuyển nhượng cho người thứ 3.

Đơn khởi kiện bổ sung ngày 14/12/2017, ông Chung Il G yêu cầu bà Đ trả lại cho ông: 01 căn nhà, 01 kho đông lạnh, 01 bình Điện cao thế 03 pha, 01 giếng khoan các công trình, Công trình san lấp mặt bằng và phương tiện phục vụ cho sản suất (01 thùng container) trên đất của ông theo đúng hiện trạng, ông tạm tính là 2.000.000.000 đồng.

Đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/10/2018 ông Chung Il G yêu cầu bà Đ trả lại cho ông: 01 căn nhà tạm, 01 bồn nước bằng Inox chứa nước sinh hoạt, 02 hồ xây bằng xi măng để nuôi tôm;

Quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của ông Chung Il G yêu cầu bà Đ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 29.710m2 cho ông Chung Il G, quyền sở hữu các tài sản trên đất theo các đơn khởi kiện bổ sung.

Đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng vay tài sản ông Chung Il G trình bày: ngày 17/11/2007, ông Chung Il G có cho bà Đ vay số tiền 250.000.000 đồng, để trả nợ cho bà T (là em ruột bà Đ), sau đó bà Đ đã trả cho ông được 140.000.000 đồng, còn nợ 110.000.000 đồng; nay ông yêu cầu bà Đ trả lại 110.000.000 đồng nợ gốc.

Đơn phản tố đề ngày 23/9/2015 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:

Ngày 22/10/2008 ông Chung Il G đã ký tên sang nhượng QSDĐ diện tích

29.710m2 cho bà Đ, có lập hợp đồng bằng hai thứ tiếng (Việt – Hàn), việc ký tên, lăn tay trên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đã được giám định đúng chữ ký và dấu vân tay là của ông Chung Il G.

Ngày 24/10/2008, ông Chung và con trai là Jung Tea I làm cam kết gởi UBND xã N về việc giao bà Đ đứng tên QSDĐ và toàn quyền quyết định đối với diện tích đất 29.710m2 tài sản trên đất là 01 nhà lắp ráp, điện và 15 cái ao tổng trị giá 1.500.000.000 đồng, không thắc mắc khiếu nại và cam kết được lập thành 03 bản mỗi bên giữ 01 bản, UBND xã N giữ 01 bản. Cùng ngày ông Il G và các hộ bán đất cho ông IL G đến xã N chuyển nhượng đất cho bà Đ đúng trình tự thủ tục theo luật đất đai quy định.

Ngày 30/10/2008 bà Đ được UBND Huyện DMC cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 29.710m2 thể hiện bằng 05 giấy chứng nhận QSDĐ. Sau khi bà Đ được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì ngày 27/11/2008 ông Chung Il G đã làm đơn xin giải thể Công ty Co - V, lý do “Chủ đầu tư gặp tai nạn, công ty gặp các trở ngại không thể triển khai dự án” để không còn gì liên quan đến phần đất đã sang nhượng cho bà Đ và đến ngày 16/01/2009 UBND tỉnh Tây Ninh có thông báo giải thể Công ty Co - V.

Quá trình giao dịch ngày 25/12/2008 hai bên có chốt nợ và thỏa thuận với nhau ông Chung Il G có nợ bà Đ 1.350.000.000 đồng, đồng ý giao đất nông trại (3ha) nhà, hệ thống điện trị giá 1.100.000.000 đồng trừ nợ, còn nợ lại bà Đ 250.000.000 đồng, ông Chung Il G có lăn tay và đã được giám định dấu vân tay là của ông Chung Il G, đến ngày 25/10/2009 ông có mượn thêm 200.000.000 đồng, tổng cộng hiện nay ông Chung Il G còn nợ bà Đ 450.000.000 đồng. Bà Đ đồng ý khấu trừ số tiền bà Đ đang nợ ông Chung Il G 110.000.000 đồng và yêu cầu ông Chung Il G trả cho bà Đ 340.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên tòa sơ thẩm lần 01 bà Đ xin rút lại yêu cầu đối với ông Chung Il G về việc đòi lại 05 giấy chứng nhận QSDĐ (hiện ông Chung Il G đang giữ).

Trong quá trình giải quyết bà Đ không bổ sung thêm yêu cầu phản tố giải nguyên các lời trình bày không trình bày gì thêm.

Quá trình giải quyết hai bên không yêu cầu đo đạc mà thống nhất tổng diện tích đất tranh chấp theo 05 giấy chứng nhận QSDĐ (hiện ông Chung Il G đang giữ) là: 29.710 m2; hai bên không thống nhất được giá trị tài sản tranh chấp yêu cầu định giá

Về chi phí tố tụng: bà Đ đã nộp tiền tạm ứng giám định tư pháp 7.000.000

đồng; ông Phong nộp chi phí giám định và tiền xe 2.100.000 đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng và định giá tài 3.000.000 đồng tổng cộng ông Phong nộp tạm ứng chi phí tố tụng 6.100.000 đồng.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu,

tỉnh Tây Ninh có ý kiến về phần Tố tụng như sau:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm Phán chấp hành đúng quy định của

pháp luật; Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Chung Il G đối với bà Lê Thị Ngọc Đ

về tranh chấp quyền sử dụng đất.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chung Il G đối với bà Lê

Thị Ngọc Đ về việc tranh chấp tài sản trên đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

- Buộc bà Lê Thị Ngọc Đ trả cho ông Chung Il G giá trị các tài sản trên đất

952.854.756đ.

- Bà Lê Thị Ngọc Đ có nghĩa vụ trả nợ cho ông Chung Il G số tiền

110.000.000 đồng.

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đ đối với ông Chung Il G về

việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

- Ông Chung Il G có nghĩa vụ trả nợ cho bà Lê Thị Ngọc Đ số tiền

250.000.000 đồng.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đ về tranh chấp hợp

đồng vay tài sản với ông Chung Il G số tiền 200.000.000 đồng.

- Khấu trừ số tiền bà Đ còn nợ ông Chung Il G là 110.000.000 đồng vào số

tiền ông Chung Il G nợ bà Đ là 250.000.000 đồng; ông Chung Il G còn phải trả cho bà Đ số tiền 140.000.000 đồng.

- Về án phí, chi phí Tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định của pháp

luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, lời

trình bày của các đương sự, đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về tố tụng:

Ông Chung Il G là người nước ngoài sang Việt Nam kinh doanh và sinh sống tại khu phố 2, thành phố T, tỉnh Bình Dương, yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Lê Thị Ngọc Đ; trú tại Huyện D, tỉnh Tây Ninh tài sản tranh chấp cũng tọa lạc tại Huyện D nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, theo quy định của Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với ông Kim Kwi D: Theo Công văn số 1959/BTP-PLQT ngày 14/6/2018, về kết quả ủy thác tư pháp trả lời: “Đối với đương sự Kim Kwi D có địa chỉ tại Hàn Quốc. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền không thực hiện được ủy thác tư pháp nêu trên do: Không có người nhận tại nơi được yêu cầu” (bút lục 828) nên Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Về nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sở hữu tài

sản trên đất:

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện diện tích 29.710 m2 đất

tranh chấp bà Lê Thị Ngọc Đ đứng tên 05 giấy chứng nhận QSDĐ, có nguồn gốc của ông Chung Il G thỏa nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N, bà Lâm Thị Huỳnh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cùng thống nhất lời khai xác định là bà Đ đứng tên quyền sử dụng đất dùm cho ông Chung Il G. Tuy nhiên bà Đ cho rằng ông Chung Il G có vay của bà 1.350.000.000 đồng và ông Chung Il G thỏa thuận cấn trừ 1.100.000.000 trong khoản nợ này để đổi lại ông Chung Il G giao lại toàn bộ diện tích đất trên cho bà Đ quản lý, sử dụng; chứng cứ do bà Đ xuất trình gồm giấy nợ, đơn xin cam kết ngày đề 24/10/2008, giấy sang nhượng đất 22/10/2008 được lập bằng tiếng Việt Nam và tiếng Hàn Quốc. Về phía ông Chung Il G không thừa nhận các tài liệu và có yêu cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 3492/C45B ngày 09/12/2015 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an chỉ xác định được dấu vấn tay số 2 và số 4 trong giấy vay tiền là của ông Chung Il G. Còn 3 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Chung Il G 01, 03, 05 trên giấy nhận tiền và dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Chung Il G trên văn bản tiếng Hàn Quốc lập ngày 22/10/2008 bị mờ nhòe nên không thể giám định được.

Như vậy, xác định được hai dấu vân tay trong giấy vay tiền là của ông

Chung Il G với thỏa thuận ông Chung Il G còn nợ bà Đ tổng số tiền 1.350.000.000 đồng và đồng ý giao đất nông trại (3ha) có giá trị 1.100.000.000 đồng cho bà Đ. Tổng diện tích đất tranh chấp theo 05 giấy chứng nhận QSDĐ là 29.710m2, được xem là của cá nhân ông Chung Il G nhận chuyển nhượng của cá nhân người Việt Nam; việc này là trái với pháp luật Việt Nam được quy định (Điều 9 của Luật đất đai năm 2003). Ông Chung Il G đã thỏa thuận cam kết giao cho bà Đ, bà Đ đã được Ủy ban nhân dân Huyện Dương Minh Châu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích nêu trên vào ngày 30.10.2008.

Do vi phạm điều cấm của pháp luật Việt Nam nên giao dịch dân về sự thỏa

thuận về cấn trừ tài sản ngày 25/12/2008, giữa ông Chung Il G với bà Lê Thị Ngọc Đ bị vô hiệu theo quy định của Điều 128 của Bộ luật dân sự năm 2005; ông Chung Il G có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Đ số tiền 1.100.000.000 đồng đã cấn trừ theo thỏa thuận;

Do xác định được bà Đ là người đứng tên dùm quyền sử dụng đất và quản

lý giữ gìn tài sản tranh chấp, nên phải xem xét, tính công sức bảo quản giữ gìn làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất cho bà Đ đối với phần tăng thêm. Tuy nhiên, do không xác định được chính xác phần công sức của bà Đ, nhưng xác định được ông Chung Il G đã đầu tư số tiền ban đầu là 240.000.000 đồng, ông Chung Il G được nhận lại 240.000.000 đồng, phù hợp với lời trình bày của ông P yêu cầu (bút số 261). Số tiền tăng thêm (2.252.018.000 đ – 240.000.000đ) = 2.012.018.000đ được xem là tài sản chung của hai bên nên ông Il G và bà Đ mỗi bên được hưởng một nửa là 1.006.009.000 đồng.

Như vậy, đối với tranh chấp quyền sử dụng đất thì chấp nhận một phần yêu

cầu của ông Chung Il G là có căn cứ và cụ thể ông Chung Il G được nhận tiền đầu từ mua đất ban đầu và tiền chênh lệch tăng thêm là (240.000.000 đ + 1.006.009.000đ) = 1.246.009.000đ, bà Đ có trách nhiện thanh toán lại; Bà Đ được quyền sử dụng diện tích đất 29.710m2 .

Về các đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu trả các tài sản trên đất gồm:

01 căn nhà, 01 kho đông lạnh, 01 bình Điện cao thế 03 pha, 01 giếng khoan

các công trình, Công trình (đất) san lấp mặt bằng và (phương tiện phục vụ cho sản suất 01 thùng container) 01 căn nhà tạm, 01 bồn bằng Inox dùng chứa nước sinh hoạt, 02 hồ xây bằng xi măng để nuôi tôm;

Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện là ông Chung Il G có đầu tư để thành lập

Công ty TNHH Co- V. Kết quả thẩm định giá tài sản của HĐĐG ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng định giá Huyện D thì tài sản nêu trên có giá trị còn lại là 902.854.756 đồng. Tài sản khi xem xét tại chỗ thì có thùng container, đến ngày định giá tài sản thì bị đơn giữ gìn tài sản tranh chấp đã di chuyển đi nơi khác nên không định giá được; nguyên đơn cung cấp giá trị của (01 thùng container cũ loại 20feet) có giá 50.000.000 đồng; nên tổng giá trị tài sản tranh chấp nguyên đơn yêu cầu được chấp nhận là 952.854.756 đồng;

Bà Đ có công quản lý giữ gìn tài sản sau khi có thỏa thuận với ông Chung

Il G nên trích một khoản để trả tiền công cho bà Đ là phù hợp. Ghi nhận bên nguyên đơn đồng ý trích một phần tài sản để trả công giữ gìn tài sản cho bà Đ; Về công sức giữ gìn bà Đ được hưởng 50.000.000 đồng.

Như vậy, sau khi khấu trừ tiền công giữ gìn bà Đ phải trả lại cho ông

Chung Il G là (952.854.756đ – 50.000.000đ) = 902.854.756 đồng.

Bà Đ được sở hữu tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà, 01 kho đông lạnh, 01

bình Điện cao thế 03 pha, 01 giếng khoan các công trình, Công trình (đất) san lấp mặt bằng, 01 căn nhà tạm, 01 bồn nước bằng Inox chứa nước sinh hoạt, 02 hồ xây bằng xi mang để nuôi tôm, 01 thùng container cũ loại 20feet.

Về tranh chấp hợp đồng vay tài sản:

Ông Chung Il G yêu cầu bà Đ trả số tiền 110.000.000 đồng. Hai bên thừa

nhận ngày 17/11/2017, ông Chung Il G có cho bà Đ vay 250.000.000 đồng, hai bên thống nhất bà Đ đã trả được 140.000.000 đồng, còn nợ 110.000 đồng, nên chấp yêu cầu của ông Chung Il G buộc bà Đ trả nợ cho ông Chung Il G 110.000.000 đồng là có căn cứ.

Bà Đ phản tố yêu cầu ông Chung Il G trả cho bà Đ số tiền vay 450.000.000

đồng; Giấy vay tiền do bà Đ xuất trình thể hiện ông Chung Il G vay của bà Đ đến ngày chốt nợ là 1.350.000.000 đồng. Sau đó thỏa thuận để cấn trừ vào tài sản gồm: đất, nhà và bình điện 1.100.000.000 đồng còn nợ lại 250.000.000 đồng, có in dấu vân tay đã được giám định là dấu vân tay của ông Chung Il G. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đ về số tiền vay còn nợ 250.000.000 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đ yêu ông Chung Il G

trả nợ số tiền 200.000.000 đồng, do bà Đ không chứng minh được ông Chung Il G có vay số tiền này.

Như vậy, về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thì xác định được bà Đ

còn nợ ông Chung Il G số tiền 110.000.000đồng; còn ông Chung Il G nợ lại bà Đ số tiền 250.000.000 đồng.

Tổng số tiền ông Chung Il G khởi kiện được chấp nhận yêu cầu là:

(1.246.009.000đ + 952.854.756đ + 110.000.000đ) = 2.308.063.756đ);

Tổng số tiền bà Đ được hưởng và ông Chung Il G trả nợ là:

(1.100.000.000đ + 50.000.000đ + 250.000.000đ) = 1.400.000.000 đồng.

Sau khi khấu trừ thì bà Lê Thị Ngọc Đ còn phải trả nợ cho ông Chung Il G

số tiền là (2.308.063.756đ – 1.400.000.000đ) = 908.863.756 đồng.

Quá trình giải quyết bà Đ xin rút lại yêu cầu đối với ông Chung Il G về việc

đòi lại 05 giấy chứng nhận QSDĐ (hiện ông Chung Il G đang giữ);

Quá trình giải quyết các đương sự yêu cầu trả tiền gốc nên ghi nhận.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh

Châu, tỉnh Tây Ninh đề nghị:

Hội đồng xét xử xét thấy các đề nghị phù hợp nên chấp nhận gồm:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với tranh

chấp về tài sản trên đất; chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản;

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đ về tranh chấp hợp đồng

vay tài sản;

- Không chấp nhận một phần yêu cầu về tranh chấp hợp đồng vay tài sản,

Hội đồng xét xử xét các đề nghị trên là phù hợp nên chấp nhận.

Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát Huyện

Dương Minh Châu: Không chấp nhận yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Chung Il G với bà Lê Thị Ngọc Đ.

Về chi phí Tố tụng:

Về tiền chi phí giám định lần 1 bà Đ nộp tạm ứng chi phí giám định

7.000.000 đồng, kết quả giám định chứng cứ của bà Đ là có căn cứ để chấp nhận yêu cầu nên ông Chung Il G phải chịu chi phí là 7.000.000 đồng;

Nguyên đơn nộp tiền tạm ứng chi phí để xem xét, thẩm định tại chỗ và định

giá tài sản tranh chấp, yêu cầu của ông nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đ phải chịu tiền chi phí 4.000.000 đồng; khấu trừ ông Chung Il G có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Đ 3.000.000 đồng.

Nguyên đơn chịu tiền chi phí giám định lần 2, số tiền là 2.100.000 đồng do

không giám định được tài liệu.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đ phải chịu án phí về các tranh chấp mà ông Chung Il G được

chấp nhận yêu cầu:

Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sở hữu tài sản được

chấp nhận yêu cầu (2.148.863.756đ) tiền án phí là 74.977.275 đồng;

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản được chấp nhận (110.000.000đ) án phí là

5.500.000 đồng;

Tiền án phí bà Đ không được chấp nhận yêu cầu (200.000.000đ) án phí là

10.000.000 đồng;

Tổng cộng bà Đ phải chịu án phí sơ thẩm dân sự: 90.477.275 đồng nhưng

được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.500.000 đồng theo biên lai thu số: 0006439 ngày 23/9/2015, của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D; bà Đ còn phải nộp tiếp 81.977.275 đồng.

Ông Chung Il G phải chịu án phí sơ thẩm dân sự số tiền bà Đ phản tố

được chấp nhận yêu cầu: Về tranh chấp hợp đồng vay tài sản (250.000.000đ) án phí là: 12.500.000 đồng;

Tiền hoàn trả tài sản cho bà Đ do giao dịch dân sự vô hiệu

(1.100.000.000đ) án phí là: 45.000.000 đồng;

Bà Đ được hưởng tiền công giữ gìn tài sản 50.000.000 đồngđ) án phí là:

2.500.000 đồng;

Tổng cộng ông Chung Il G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 60.000.000

đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 63.450.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện D, ông Chung Il G được hoàn 3.450.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 128, 256, 471, 474, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Điều 9 của luật đất đai năm 2003; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận một phần các yêu cầu khởi kiện của ông Chung Il G đối với

bà Lê Thị Ngọc Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp quyền sở hữu tài sản trên đất”; chấp nhận yêu cầu của ông Chung Il G đối với bà Lê Thị Ngọc Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”:

+ Tuyên bố giao dịch dân sự thỏa thuận cấn trừ tài sản đề ngày 25/12/2008,

giữa ông Chung Il G và bà Lê Thị Ngọc Đ vô hiệu; ông Chung Il G có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Đ số tiền 1.100.000.000 đồng.

+ Về tranh chấp quyền sử dung đất, buộc bà Đ có nghĩa vụ trả cho ông

Chung Il G tiền đầu từ mua đất ban đầu và tiền chênh lệch tăng thêm tổng cộng là: 1.246.009.000 đồng.

+ Về tranh chấp quyền sở hữu tài sản và công trình trên đất, buộc bà Lê Thị

Ngọc Đ trả lại cho ông Chung Il G giá trị tài sản còn lại là: 902.854.756 đồng.

+ Bà Đ được hưởng tiền công giữ gìn tài sản: 50.000.000 đồng;

Về hợp đồng vay tài sản: Buộc bà Lê Thị Ngọc Đ trả cho ông Chung Il G

số tiền 110.000.000 đồng.

2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Ngọc Đ đối với ông

Chung Il G về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Chung Il G có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Ngọc Đ

250.000.000 đồng.

Không chấp nhận một phần phản tố về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

của bà Đ yêu cầu ông Chung Il G trả nợ 200.000.000 đồng.

3. Số tiền ông Chung Il G nợ bà Lê Thị Ngọc Đ và bà Đ nợ lại ông Chung

Il G được khấu trừ; sau khi khấu trừ (2.258.063.756 đồng – 1.400.000.000 đồng = 858.063.756 đồng); buộc bà Lê Thị Ngọc Đ có nghĩa vụ trả nợ (thanh toán) cho ông Chung Il G: 858.063.756 đồng (tám trăm năm tám triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi sáu đồng).

Ghi nhận việc bà Đ xin rút lại yêu cầu đối với ông Chung Il G về việc đòi

lại 05 giấy chứng nhận QSDĐ (hiện ông Chung Il G đang giữ).

Ghi nhận quá trình giải quyết vụ án ông Chung Il G và bà Đ yêu cầu trả nợ

gốc.

4. Bà Đ được quyền sử dụng diện tích đất 29.710m2 gồm các thửa: 3393,

3394, 3477, 3478, 3479, tờ bản đồ số 4, xã N, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và các tài sản trên đất gồm có: 01 căn nhà, 01 kho, 01 bình Điện cao thế 03 pha, 01 giếng khoan các công trình, Công trình (đất) san lấp mặt bằng, 01 căn nhà tạm, 01 bồn nước bằng Inox chứa nước sinh hoạt, 02 hồ xây bằng xi mang để nuôi tôm;

5. Về tiền chi phí tố tụng: Ông Chung Il G phải chịu 7.000.000 đồng; bà Đ

đã nộp 7.000.000 đồng; bà Đ phải chịu 4.000.000 đồng chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ; khấu trừ ông Chung Il G có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Đ 3.000.000 đồng.

Ông Chung Il G phải chịu 2.100.000 đồng chi phí giám định lần 2 (đã nộp

xong);

6. Về án phí sơ thẩm dân sự:

Bà Đ phải chịu 90.477.275 đồng nhưng được khấu trừ 8.500.000 đồng tiền

tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0006439 ngày 23/9/2015 của Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện D; bà Đ còn phải nộp tiếp 81.977.275 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Chung Il G phải chịu tổng cộng 60.000.000đ nhưng được khấu trừ

63.450.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0006379 ngày 28/8/2015 (6.250.000 đồng); số: 0006726 ngày 11/12/2015 (21.000.000 đồng); Biên lai thu số 0010046 ngày 22/12/2017 (36.000.000 đồng); Biên lai thu số 0011081 ngày 08/10/2018 (300.000 đồng); biên lai thu số 0014211 ngày 06/7/2016 (200.000đ) của Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện D, hoàn trả ông Chung Il G 3.450.000 đồng

7. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn không trả

nợ thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

8. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng

cáo bản án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ