vanban.org

Bản án 29/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 25/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quy định chung: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "E-PH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2019/DS-ST
Ngày: 25-9-2019
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Truyền

2. Ông Nguyễn Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Triệu Hoàng Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2019/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị E, sinh năm 1963;

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Ninh Sơn, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Ph, sinh năm 1968;

Nơi cư trú: Thôn Gia Mỹ, xã Ninh An, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

3. Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: Thôn Lạc Bình, xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Bà Lê Thị H, sinh năm 1960;

Nơi cư trú: Ô 13 lô CL10 Hòn Rớ 2, xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn thể hiện:

Do có quan hệ quen biết từ trước nên bà có cho bà Nguyễn Thị Hồng Ph vay nhiều lần tiền đề làm dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Đến ngày 22/12/2015 bà Ph có lập giấy biên nhận tiền với nội dung nhận nợ bà số tiền 46.100.000 đồng và có hứa miệng là trả hết trước tết âm lịch năm 2016. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà Ph không trả nợ, không thực hiện lời hứa của mình, bà đã nhiều lần đến nhà nhắc nợ nhưng bà Ph vẫn cố tình không trả nợ.

Nay, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa buộc bà Nguyễn Thị Hồng Ph phải trả cho bà số tiền nợ là 46.100.000đ (Bốn mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng), trả một lần, không yêu cầu tính lãi.

* Lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tranh tụng tại phiên tòa của bị đơn thể hiện:

Bà thừa nhận có quen biết và chơi chung với bà Vũ Thị E khoảng 2 năm. Đầu năm 2015, bà E rủ bà vào thành phố Nha Trang để đầu tư làm ăn dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Do không có tiền để đầu tư nên ngày 22/10/2015, bà E cho bà vay số tiền 44.100.000đ (Bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng). Đến ngày 05/12/2015, bà đã vay tiền Ngân hàng và trả hết số tiền đã vay của bà E nhưng không lập giấy tờ gì. Nay, bà E yêu cầu bà trả hết một lần số tiền 46.100.000 đồng và không yêu cầu lãi suất thì bà không đồng ý vì số tiền đó bà đã trả cho bà E từ năm 2015 nên bà không tiếp tục trả nữa.

* Tại phiên tòa, người làm chứng bà Nguyễn Thị Th trình bày:

Bà và bà Vũ Thị E, bà Nguyễn Thị Hồng Ph có quen biết nhau và cùng đầu tư làm ăn dịch vụ chăm sóc sắc đẹp tại Nha Trang. Ngày 22/10/2015, bà có đến nhà bà Nguyễn Thị Hồng Ph để chơi và chứng kiến bà Ph ký vào giấy tờ gì đó theo yêu cầu của bà Vũ Thị E. Bà chỉ chứng kiến việc bà Ph ký giấy tờ từ xa, nội dung như thế nào thì bà không rõ, sau khi xảy ra tranh chấp thì bà mới nghe kể lại.

* Tại phiên tòa, người làm chứng bà Lê Thị H trình bày:

Năm 2015, bà Vũ Thị E là người quen biết với bà từ trước có đứng ra bảo lãnh cho bà Nguyễn Thị Hồng Ph vay tiền. Do tin tưởng bà E nên bà có cho bà Ph vay tiền. Sau đó, bà Ph đã nhờ bà E đem trả đủ số tiền mà bà Ph đã vay. Việc vay mượn giữa bà Ph và bà E thì bà không rõ, sau khi xảy ra tranh chấp thì bà mới nghe kể lại.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tại phiên tòa sơ thẩm:

Về chấp hành pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng Ph phải trả cho bà Vũ Thị E số tiền nợ là 46.100.000đ (Bốn mươi sáu triệu một trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Vũ Thị E yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng Ph trả số tiền 46.100.000đ (Bốn mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng) là số tiền nợ chưa trả. Bà Nguyễn Thị Hồng Ph có nơi cư trú tại: Thôn Gia Mỹ, xã Ninh An, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy, khi xảy ra vi phạm thuộc tranh chấp dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Hồng Ph thừa nhận có mượn nợ của bà Vũ Thị E số tiền 44.100.000đ (Bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng), bà Ph khẳng định đã trả hết nợ cho bà E tuy nhiên việc trả nợ không lập giấy tờ gì. Vi vậy lời khai của bà Ph là không có cơ sở để xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà Ph chậm trả tiền đã vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà E, vì vậy yêu cầu khởi kiện của bà E là có sơ sở để chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Ph phải trả cho bà Vũ Thị E số tiền 46.100.000đ (Bốn mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng). Bà E không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471; Điều 474 và Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Ph phải trả cho bà Vũ Thị E số tiền 46.100.000đ (Bốn mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng).

Quy định chung: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Ph phải chịu 2.305.000đ (Hai triệu ba trăm lẻ năm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Vũ Thị E 1.152.500đ (Một triệu một trăm năm mươi hai ngàn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0006227 ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ