- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Ngọc C khởi kiện ông Ngô Thế B về tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/DS-ST Ngày 25 tháng 10 năm 2019 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng, ông Lê Khắc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam– Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Tại - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 189/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1937. Địa chỉ: 109 Ngô Gia T, tổ dân phố H, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Ngô Thế B. Địa chỉ: Khối M, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C trình bày:
Vào ngày 28/5/2016, ông Ngô Thế B có vay của ông Nguyễn Ngọc C số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay hai bên không có thỏa thuận lãi suất và hẹn bằng miệng ngày 28/6/2017 sẽ trả cho ông C số tiền trên. Đến nay, do quá hạn trả nợ đã lâu nhưng ông B không trả cho ông C số tiền trên, hiện nay ông B vắng mặt tại nơi cư trú, không báo cho ông C biết là ông B đã đi đâu, có dấu hiệu trốn tránh việc trả nợ cho ông C. Vì vậy, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B phải trả cho ông C số tiền đã vay gốc là 100.000.000 đồng, ông C không yêu cầu ông B phải trả tiền lãi.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông B vắng mặt tại nơi cư trú, đã được Tòa án niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông B vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông B là đúng quy định của pháp luật.
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Ngô Thế B phải trả cho ông Nguyễn Ngọc C số tiền đã vay gốc là 100.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Ông Nguyễn Ngọc C khởi kiện yêu cầu ông Ngô Thế B phải trả số tiền vay là 100.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) đây là “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Eakar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông B vắng mặt tại nơi cư trú: Khối 1, thị trấn EaKar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, không thông báo cho ông C và chính quyền địa phương biết địa chỉ hiện nay đang cư trú. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông B theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông B không đến Tòa án làm việc và tại phiên tòa hôm nay ông B vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
* Về nội dung:
Vào ngày 28/5/2016, ông Ngô Thế B có vay của ông Nguyễn Ngọc C số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay hai bên không có thỏa thuận lãi suất và hẹn bằng miệng ngày 28/6/2016 sẽ trả cho ông C. Nhưng vì quá hoạn trả nợ đã lâu nhưng ông B không trả cho ông C số tiền trên, hiện nay ông B đã bỏ đi khỏi địa phương, không báo cho ông C biết là ông B đã đi đâu, có dấu hiệu trốn tránh việc trả nợ cho ông C. Do đó, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C nên
2
ông C yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông B phải trả cho ông C 100.000.000 đồng tiền đã vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông B đã vắng mặt tại nơi cư trú. Để đảm quyền, lợi ích của các bên đương sự và theo đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của nguyên đơn đối với chữ viết, chữ ký của bị đơn ông Ngô Thế B trong giấy vay tiền ngày28/5/2016. Trong quá trình thu thập chữ viết, chữ ký của bị đơn, Tòa án thu thập được chữ viết, chữ ký của ông Ngô Thế B trong các tài liệu sau: Đơn xin báo mất sổ hộ khẩu gia đình có xác nhận của công an thị trấn EaKar ngày 13 tháng 3 năm 2019; Bản khai nhân khẩu đề ngày 15 tháng 3 năm 2019 và đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký của bị đơn ông Ngô Thế B.
Tại kết luận giám định số 80/PC09 ngày 26/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
Chữ ký, chữ viết mang tên Ngô Thế B dưới mục “Người vay” trong tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết đứng tên Ngô Thế B trong các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.
Từ những chứng cứ mà các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Xác định ông Ngô Thế B có chữ ký, chữ viết xác nhận trong giấy vay tiền ngày 28/5/2016 vay 100.000.000 đồng của ông Nguyễn Ngọc C là thực tế. HĐXX cần buộc ông Ngô Thế B trả cho ông Nguyễn Ngọc C số tiền 100.000.000 đồng đã vay ngày 28/5/2016 là phù hợp với pháp luật.
Đối với chi phí giám định: Ông Nguyễn Ngọc C có đơn yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của bị đơn ông Ngô Thế B, chi phí giám định là 5.040.000 đồng. Kết quả giám định chứng minh yêu cầu của C là có căn cứ nên HĐXX cần buộc ông Ngô Thế B phải trả lại cho ông C 5.040.000 đồng tiền chi phí giám định là đúng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Ngô Thế B phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn (theo mức 100.000.000 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 147, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự 2005;
3
khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C:
Buộc ông Ngô Thế B phải trả cho ông Nguyễn Ngọc C số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn). Ông C không yêu cầu ông B phải trả tiền lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí giám định: Buộc ông Ngô Thế B phải trả cho ông Nguyễn Ngọc C chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 5.040.000 đồng (Năm triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Ông Ngô Thế B phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận : - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND huyện EaKar; - THADS huyện EaKar; - Đương sự; - Lưu HS. | Nguyễn Cường Anh 4 |