- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thái D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2018/HS-ST Ngày: 07-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Thụ – Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
Bà Mai Thị Mỵ – Nghề nghiệp: Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Ea H’Leo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Y Đum Kpă – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2018 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Thái D, sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hải T, sinh năm 1958 và bà Trần Thị V, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1983 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15 tháng 9 năm 2005 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt; bị bắt tạm giữ ngày 10 tháng 01 năm 2018 đến ngày 19 tháng 01 năm 2018 chuyển sang tạm giam, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2018 tại phòng trọ của Bùi Thái D thuộc thôn A, xã E, huyện E, Đội cảnh sát điều tra về tội phạm Kinh tế - Ma túy Công an huyện Ea H’Leo kết hợp với Công an xã Ea H’Leo, huyện Ea H’Leo thì phát hiện, bắt quả tang Bùi Thái D có hành vi tàng trữ 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất màu trắng, D khai nhận chất màu trắng là ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất màu trắng được niêm phong.
Quá trình điều tra Bùi Thái D khai nhận: D là đối tượng nghiện ma túy nên vào sáng ngày 10 tháng 01 năm 2018, D đi nhờ xe mô tô của 01 người không quen biết từ xã Ea H’Leo đến chợ xã Ea Wy để tìm mua ma túy. Tại đây, D gặp 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 500.000 đồng ma túy về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, D đi nhờ xe về phòng trọ của mình thuê tại thôn A, xã E, huyện E và lấy gói ma túy vừa mua được sử dụng một ít, số ma túy còn lại D bỏ vào túi quần thì bị Công an huyện Ea H’Leo phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 176/GĐMT-PC54, ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, được niêm phong gửi giám định có khối lượng là 0,1445 gam là ma túy, loại ma túy là Hêrôin. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,1178 gam.
Bị cáo Bùi Thái D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS, ngày 26 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo để xét xử đối với bị cáo Bùi Thái D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thái D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10 tháng 01 năm 2018.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 0,1178 gam Hêrôin còn lại sau giám định.
Bị cáo Bùi Thái D không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Bùi Thái D nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Ngày 10 tháng 01 năm 2018 tại phòng trọ của Bùi Thái D thuộc thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Bùi Thái D có hành vi tàng trữ Hêrôin thì bị phát hiện, bắt giữ. Tang vật thu giữ là 0,1445 gam Hêrôin.
Hội đồng xét xử nhận thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, thế nhưng do ý thức coi thường pháp luật, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Vì vậy, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bùi Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại điều luật trên quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamie, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy. Mặc dù các cơ quan chức năng đã có những biện pháp tuyên truyền cũng như xử phạt nghiêm khắc đối với những đối tượng vi phạm nhưng các loại tội phạm về ma túy không giảm mà vẫn có chiều hướng gia tăng tại địa phương. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, tại bản án hình sự số 191/2005/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2005, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt đủ nghiêm đối với bị cáo để trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Như vậy, bị cáo được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Thái D, không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Hêrôin là tang vật của vụ án thuộc loại vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu, tiêu hủy 0,1178 gam Hêrôin còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.
Về án phí hình sự: Cần buộc bị cáo Bùi Thái D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Bùi Thái D 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10 tháng 01 năm 2018.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,1178 gam Hêrôin còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án (Đặc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).
4. Về án phí hình sự: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Thái D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Bùi Thái D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ giám đốc kiểm tra I); - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk lắk; - Viện KSND huyện Ea H’leo; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ea H’leo; - Cơ quan thi hành án hình sự CA huyện Ea H’leo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện E; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Cổng TTĐT tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Đăng Khoa |