- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2018/HS-ST Ngày 05-6-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Duy Tiệm và ông Nguyễn Ngọc Nghiêm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị May -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện VKSND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2018/HSST ngày 04-5-2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2018 đối với:
- Bị cáo: LÊ MINH P - sinh năm 1990; ĐKHKTT: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Văn P - sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 13/4/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn C , sinh năm 1978, Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 10/4/2018, Lê Minh P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 34B2-890.24 (xe mượn của bố đẻ là ông Lê Văn P) đi từ xã V, huyện N chở theo đối tượng tên H (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) sang khu vực xã T, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy đá về sử dụng. Khi đến khu vực cầu thôn An Nghiệp, xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, Phú điều khiển xe vào đường có nhiều công ty để tìm mua ma túy đá. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe ngược lại về hướng cầu An Nghiệp, Phú gặp một thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ và mua của người này 01 gói ma túy đá có đặc điểm đựng trong túi nilon kích thước (2xl,5)cm, miệng túi có kẹp nhựa, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, với giá 300.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho P, người thanh niên này đi đâu không rõ, P điều khiển xe chở H đi về hướng cầu An Nghiệp. Đến gần khu vực ngã tư cầu An Nghiệp, phát hiện có lực lượng Công an ở phía trước nên đối tượng tên H nhảy khỏi xe bỏ chạy, P bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải của P 01 túi nilon kích thước (2x 1,5)cm, túi có kẹp miệng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; P khai đó là ma túy đá vừa mua, với mục đích sử dụng.
Kết luận giám định số 259/KLGĐ-PC54 ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong bì thư ghi thu của Lê Minh P, gửi đến giám định có trọng lượng là 0,113 gam, là loại Methamphetamien. Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Hoàn lại 0.045 gam Methamphetamine sau giám định.
Tại bản cáo trạng số 22/VKS-HS ngày 03-5-2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Miện là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/4/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì thư dán kín niêm phong, bên trong phong bì đựng 0.045 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện thanh Miện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 40 phút ngày 10/4/2018, tại khu vực ngã tư cầu An Nghiệp, xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, Lê Minh P có hành vi tàng trữ trái phép tại túi áo bên phải P đang mặc 01 gói Methamphetamine, khối lượng 0,113 gam, mục đích để sử dụng, thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an toàn trật tự xã hội. Bị cáo nhận thức được chất ma túy không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác, nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân và ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Quá trình điều tra không xác định được đối tượng đã bán Heroin cho Lê Minh P nên không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô-tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 34B2-890.24 thuộc quyền sở hữu của ông Lê Văn P (là bố đẻ của bị cáo) cho bị cáo mượn. Ông P không biết P sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện đã trả lại cho ông P là có căn cứ.
Về vật chứng: Phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, trong có chứa 0.045 gam Methamphetamine. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành, tịch thu và tiêu hủy.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh P 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/4/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì thư số 259/KLGĐ-PC54, ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có chứa 0.045 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, theo biên bản giao nhận ngày 07/5/2018 giữa Công an huyện Thanh Miện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Minh P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Minh P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân huyện Thanh Miện; - Công an huyện Thanh Miện; - Chi cục THA dân sự huyện Thanh Miện; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh HD; - Lưu: Hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Xuân Trƣờng THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Xuân Trƣờng |