- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình L cùng đồng phạm tham gia đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Riêng đối với bị cáo Hoàng Đình L: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:29/2018/HS-ST Ngày 21- 8- 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thái Học.
2. Ông Lê Gia Bảng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Phan Lê Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo:
Hoàng Đình L; sinh ngày 21/01/1974 tại huyện P, tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: Khóm C, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Hoàng Đình D (đã chết) và bà Hoàng Thị T (đã chết); có vợ và 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/8/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc”, áp dụng hình phạt bổ sung 3.000.000đồng. Đến ngày bị cáo phạm tội đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 30/3/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Hướng Hóa, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Trần Quốc T; sinh ngày 08/3/1976 tại huyện P, tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Q; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Trần Đình D và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ và 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 30/3/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Hướng Hóa, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Lê Đại H (tên gọi khác Dỏ); sinh ngày 24/01/1983 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Lê C và bà Võ Thị Thu H; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 30/3/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Hướng Hóa, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Trần Hoàng V; sinh ngày 10/10/1983 tại huyện C, tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: Khóm Đ, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Trần Viết Diên và bà Phạm Thị Hòa; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2018 đến ngày 30/3/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Hướng Hóa, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Nhật T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
Người làm chứng: Anh Lê Mậu L, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Q; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 2018, Trần Quốc T, Lê Đại H, Hoàng Đình L và Trần Hoàng V cùng nhau đến nhà ở của chị Lê Nhật T ở khóm Cao Việt, thị trấn Lao Bảo chơi, ngồi chơi một lúc thì chị T đi đón con. Khoảng 21 giờ cùng ngày, thấy trên bàn phòng khách có một bộ bài tú lơ khơ nên T, H, L và V rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức “Xì tẩy” (còn gọi là Xì tố). T lấy bộ bài và một cái đĩa sứ trên bàn phòng khách rồi cùng nhau đi vào phòng ngủ đầu tiên phía bên phải đánh bạc. T mang theo và sử dụng số tiền 4.700.000 đồng, H mang theo và sử dụng số tiền 10.700.000 đồng, L mang theo và sử dụng số tiền 5.200.000 đồng, V mang theo và sử dụng số tiền 4.700.000 đồng để đánh bạc.
Các bị cáo quy định hình thức đánh “Xì tẩy” như sau: Sử dụng 28 lá bài từ 8 đến A (át hoặc xì) trong bộ bài tú lơ khơ. Mỗi bị cáo lúc đầu được chia (hoặc bốc) 02 lá bài, trong đó có 01 lá bài tẩy (ẩm) chỉ có người đó biết được. Trong 04 vòng chơi kế tiếp, bắt đầu từ người có lá bài ngửa lớn nhất, những người chưa bỏ cuộc bốc thêm 01 lá bài ngửa và người chơi thay phiên nhau cá cược. Sau khi cá cược trong vòng thứ tư, lá bài ẩm được lật ra, và tất cả những tay bài được so với nhau. Người nào có tay bài lớn nhất là người thắng cuộc và được chia (hoặc bốc) ván sau. Trong trường hợp chỉ còn một người chơi chưa bỏ cuộc, thì người đó thắng ván bài. Một ván bài “Xì tẩy” có từ 02 đến 05 người chơi. Theo quy ước, mỗi bị cáo sẽ phải bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng, gọi là “một tẩy” để tham gia đánh. Mỗi lượt bốc bài, mỗi bị cáo chơi được tố từ 100.000 đồng trở lên đến 2.000.000 đồng. Nếu người chơi thắng thì số tiền đó phải được đặt ở chiếu bạc để đánh, không được cất vào người. Nếu người chơi thua hết thì phải lấy ra số tiền ít nhất là “một tẩy” khác để tham gia đánh.
Đến 22 giờ 05 phút cùng ngày, Công an huyện Hướng Hóa phát hiện, bắt quả tang Trần Quốc T, Lê Đại H, Hoàng Đình L và Trần Hoàng V đang đánh bạc dưới hình thức “Xì tẩy” được thua bằng tiền, số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 25.300.000đồng trong đó trước chỗ ngồi của Trần Quốc T có 3.700.000 đồng, trước chỗ ngồi của Lê Đại H có 8.300.000 đồng, trước chỗ ngồi của Hoàng Đình L có 4.700.000 đồng, trước chỗ ngồi của Trần Hoàng V có 8.600.000 đồng.
Quá trình điều tra đã thu giữ: Số tiền 25.300.000 đồng, 28 lá bài tú lơ khơ bao gồm các quân bài từ quân 8 đến quân A (Át). 04 lá bài tú lơ khơ gồm 2 cơ, 3 cơ, 4 cơ, 7 chuồn (dùng để nặn bài). 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn có in hình hoa văn, đường kính 11 cm.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Đình L, Trần Hoàng V, Trần Quốc T, Lê Đại H đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Nhật T trình bày: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 3 năm 2018 khi chị T đang ở nhà thì có Trần Quốc T, Hoàng Đình Làm, Trần Hoàng V, Lê Đại H đến chơi. Đến 21 giờ cùng ngày chị đi đón con thì T, L, Việt, H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 đĩa sứ của chị để chơi đánh bài và đã bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ. Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 cái dĩa sứ chị Lê Nhật T nhận thấy không có giá trị sử dụng nên chị không yêu cầu hoàn trả, cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự.
Bản cáo trạng số: 28/CT-VKSHH ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Trần Quốc T, Hoàng Đình Làm, Trần Hoàng V, Lê Đại H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị: Tuyên bố các Trần Quốc T, Trần Hoàng V, Lê Đại H, Hoàng Đình L phạm tội “Đánh bạc”, áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo T, H, Việt; Riêng Hoàng Đình L áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Quốc T, Trần Hoàng V mỗi bị cáo từ: 20.000.000đồng đến 22.000.000đồng ; xử phạt bị cáo Lê Đại H: 22.000.000đồng đến 25.000.000đồng; xử phạt bị cáo Hoàng Đình L từ 6 đến 9 tháng tù.
Về xử vật chứng: đề nghị áp dụng điểm 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 28 lá bài tú lơ khơ bao gồm các quân bài từ quân 8 đến quân A (Át). 04 lá bài tú lơ khơ gồm 2 cơ, 3 cơ, 4 cơ, 7 chuồn (dùng để nặn bài). 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn có in hình hoa văn, đường kính 11 cm. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 25.300.000đồng. Về trách nhiệm dân sự, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét gải quyết.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hoàng Đình L trình bày Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.
Bị cáo Lê Đại H trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo biết bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo còn con nhỏ. Bị cáo hứa sẽ cải tạo tối vfa sống có ích hơn, không vi phạm pháp luật.
Bị cáo Trần Quốc T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo Trần Hoàng V trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo còn con nhỏ, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo còn lao động nuôi gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Hướng Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/3/2018, các bị cáo Trần Quốc T, Lê Đại H, Trần Hoàng V, Hoàng Đình L đến chơi tại nhà của chị Lê Nhật T ở Khóm C, thị trấn L, huyện H. Sau khi chị Lê Nhật T đi đón con thì bị cáo Lê Đại H rủ T, Việt, L đánh bài ăn thua bằng tiền dưới hình thức Xì tẩy, các bị cáo đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày khi các bị cáo đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị Công an huyện Hướng Hóa phát hiện và bắt giữ. Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ số tiền tại chiếu bạc là 25.300.000đồng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm khách thể là trật tự công cộng. Như vậy, từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời nhận tội của các bị cáo, lời khai của người làm chứng và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để khẳng định các bị cáo đã phạm vào tội "Đánh bạc", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tước đoạt tiền của nhau là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tham lam tư lợi mà các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét các bị cáo phạm tội ít nghiệm trọng, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt chính ách pháp luật của Nhà nước và địa Phương; Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly cách bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục và cũng không làm ảnh hưởng đến tình hình đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn.
. Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án xét thấy: Bị cáo Lê Đại H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia phạm tội. Bị cáo Hoàng Đình Làm là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo và phạt tiền 3.000.000đồng. Do đó, cần xử phạt bị cáo Lê Đại H, Hoàng Đình L mức án cao hơn các bị cáo khác mới tương xứng về tính chất hành vi và nhân thân của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự: Bị cáo Hoàng Đình L, Trần Hoàng V, Lê Đại H, Trần Quốc T trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Hoàng Đình L có bố đẻ là người có công đươc Nhà nước tăng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo T, H, V có 02 tình tiết giảm nhẹ, bị cáo L có 03 tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, con của bị cáo còn nhỏ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo T, H, Việt, L hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.
.Về xử lý vật chứng vụ án: 28 lá bài tú lơ khơ bao gồm các quân bài từ quân 8 đến quân A (Át). 04 lá bài tú lơ khơ gồm 2 cơ, 3 cơ, 4 cơ, 7 chuồn (dùng để nặn bài). 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn có in hình hoa văn, đường kính 11 cm. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 25.300.000đồng bị thu giữ cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 10 tháng 7 năm 2018 theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Hướng Hóa với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hoàng Đình L, Trần Quốc T, Trần Hoàng V, Lê Đại H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Riêng đối với bị cáo Hoàng Đình L: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đình L, Trần Quốc T, Trần Hoàng V, Lê Đại H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T, Trần Hoàng V mỗi bị cáo số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình L, Lê Đại H mỗi bị cáo số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: 28 lá bài tú lơ khơ bao gồm các quân bài từ quân 8 đến quân A (Át). 04 lá bài tú lơ khơ gồm 2 cơ, 3 cơ, 4 cơ, 7 chuồn (dùng để nặn bài). 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn có in hình hoa văn, đường kính 11 cm. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 25.300.000đồng bị thu giữ.
Vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 10 tháng 7 năm 2018 theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Hướng Hóa với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
3. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Hướng Hóa; - Công an huyện Hướng Hóa; - Chi cục THA.DS huyện Hướng Hóa; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo;Người CQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Phƣơng |