vanban.org

Bản án 29/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T ph m tội “Mua bán trái phép chất ma

Xử ph t: Bị cáo Trần Văn T39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 07/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T ph m tội “Mua bán trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự

Số: 29/2018/HS-ST

Ngày: 09/05/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M HUY N GI O THỦY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M TÒ ÁN

NHÂN DÂN H

UY N GI O THỦY, TỈNH N M ĐỊNH - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: T ẩm p án - C ủ t a p iên tòa: Ông Ph m Thanh Lâm. Các Hội t ẩm n ân dân: Ông Cao Văn Thịnh. Bà Quách Thị Lừng. - hư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao hủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 5 năm 2018 t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐ XXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Văn T - Sinh năm 1974 t i xã G, huyện G, tỉnh N. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm T xã G, huyện G, tỉnh N. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Trần Văn Đ - Sinh năm 1948 và bà Trần Thị M - Sinh năm 1949 đều làm ruộng và trú t i xóm T, xã G, huyện G, tỉnh N; Vợ là: Nguyễn Thị H - Sinh năm 1978 đã ly hôn; có hai con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999. Tiền án: Ngày 01/7/2014 Trần Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử ph t 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra tr i ngày 28/4/2016. Tiền sự: Không. Bị cáo bị t m giam tính từ ngày bị bắt t m giữ 07/01/2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i tr i t m giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt t i phiên tòa. - Người làm c ứng:

1. Ông Nguyễn Đăng D - Sinh năm 1954; Địa chỉ: Xóm 5 Q xã G, huyện G, Tỉnh N. 2. Chị Trần Thị C - Sinh năm1989; Địa chỉ: Xóm 12 xã G, huyện G, tỉnh N. 3.Anh T Văn Q - sinh năm 1975; Địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh N. 4.Ông Bùi Đức V - Sinh năm 1962; 5.Ông Trần Văn Đ - Sinh năm 1948. Đều có địa chỉ : Xóm T xã G , huyện G, tỉnh N. T i phiên tòa: Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 07/01/2018, tổ tuần tra Công an huyện Giao Thủy tuần tra t i khu vực trung tâm điều trị Mathadone thuộc xóm Thanh Long xã Giao Thanh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Văn T (là đối tượng nghiện ma túy) đang ngồi t i ghế đá trong sân trung tâm có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy. Tổ tuần tra tiến hành kiểm tra đối với Trần Văn T phát hiện và thu giữ dưới chân gần chỗ ngồi của T 03 gói giấy nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng. Trần Văn T khai đó là 03 gói Heroine của T cất giấu mục đích để bán kiếm lời được niêm phong ký hiệu M. Ngoài ra còn thu giữ của T 200.000 đồng, T khai đó là tiền T vừa bán 02 gói Heroine cho một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ mà có. Tổ công tác đã bắt người ph m tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà nơi T ở tổ tuần tra còn thu giữ 8.500.000 đồng. T i bản kết luận giám định số 29/GĐKTHS ngày 08/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Lo i ma túy: Heroine. Tổng trọng lượng (tổng khối lượng) mẫu M: 0,172gam. T i Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Giao Thủy, cũng như t i phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Bản cáo tr ng số 32/CT - VKS ngày 11/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: T i cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu 03 gói Heroine, tổng trọng lượng (tổng khối lượng) 0,172 gam. với mục đích để bán kiếm lời. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251;

điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử ph t bị cáo Trần Văn T từ 36 đến 42 tháng tù. Về hình ph t bổ sung: Điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, vợ đã ly hôn nên đề nghị không áp dụng hình ph t bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có. Bị cáo Trần Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là ph m tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được miễn hình ph t bổ sung. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 07/01/2018 Tổ tuần tra Công an huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 03 gói Heroine, tổng trọng lượng (tổng khối lượng) 0,172 gam với mục đích để bán kiếm lời. Sau khi bị bắt giữ bị cáo còn khai nhận đã bán cho một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ 02 gói Heroine lấy 200.000 đồng. Do đó bị cáo đã ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi ph m tội của bị cáo đã xâm ph m đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm ph m trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ n n xã hội, gia tăng tội ph m hình sự, xâm ph m tới đ o đức và sức khỏe con người. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mới

ra tù được một thời gian ngắn bị cáo l i tiếp tục đi mua ma túy về bán cho các đối tượng nghiện nhằm mục đích kiếm lời. Bị cáo ph m tội với tính chất nghiêm trọng, do đó thấy trước được tác h i của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện mua ma túy để bán cho những con nghiện khác. Vì vậy cần áp dụng đối với bị cáo hình ph t tù có thời h n, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định đủ để bị cáo cải t o và góp phần phòng ngừa tội ph m nói chung. [3] Khi quyết định hình ph t, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phếp chất ma túy” chưa được xóa án tích, nên lần ph m tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái ph m” quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [4] Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người ph m tội còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. [5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Tịch thu 200.000 đồng sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền 8.500.000 đồng đã thu giữ là tiền hợp pháp của bị cáo, nên Cơ quan CSĐT công an huyện Giao thủy đã trả l i cho gia đình bị cáo là phù hợp. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của T cấu giấu để bán, T khai mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng của Nguyễn Đăng D sinh năm 1954 trú t i xóm 5 Quyết Tiến xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy. Sau đó T mang về đem chia thành 05 gói nhỏ đến sáng ngày 07/01/2018 T cầm xuống trung tâm điều trị Methadone, T đã bán được 02 gói với giá 200.000 đồng, còn l i 03 gói T chưa kịp bán thì bị bắt quá trình điều tra không đủ căn cứ Nguyễn Đăng D đã bán Heroine cho T nên vấn đề xử lý không đặt ra. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định t i Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử ph t: Bị cáo Trần Văn T39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 07/01/2018. 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/4/2018 t i Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy). 3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ