vanban.org

Bản án 29/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/01/2018. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ bao nilông và số ma túy còn lại (7,904g) được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư màu nâu có đầy đủ chữ ký của các thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2018/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn

Ông Nguyễn Tất Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T - sinh ngày 06 tháng 02 năm 1983 tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Bản CR 1, xã X L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị L; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: ngày 25/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 25/2016/HSST; Bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/01/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 28/01/2018, Nguyễn Hữu T rời từ xe khách xuống tại khu vực ngã ba gần Trạm cảnh sát giao thông 1-7 thuộc địa phận xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện Đô Lương giữ lại kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái T đang mặc 02 gói chất bột màu trắng (nghi là ma túy) gồm: 01 gói được gói bằng bao nilông màu trắng, kích thước 2cmx4cm; 01 gói được gói bằng bao nilông màu xanh, kích thước 2cmx4cm.

Tổ công tác đã tiến hành đưa đối tượng về tạm giữ tại trụ sở Công an huyện Đô Lương vào ngày 28/01/2018; lập biên bản xác định khối lượng và lấy mẫu giám định vào ngày 28/01/2018. Kết quả số chất bột màu trắng có khối lượng 8,222g; trích mẫu 0,318g gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An để giám định theo Quyết định trưng cầu giám định số 30 ngày 29/01/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương.

Tại Kết luận giám định số 276/KL-PC54(MT) ngày 30/01/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Hữu T gửi tới giám định là ma túy (Heroin). Chất bột màu trắng (02 gói) thu giữ của Nguyễn Hữu T có tổng khối lượng là 8,222g. Đối tượng gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 02/5/2018, cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản gồm: vỏ bao nilông và số ma túy còn lại được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư màu nâu có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu T khai nhận: số ma túy T tàng trữ từ ngày 27/01/2018 đến ngày bị bắt giữ là nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, việc tàng trữ số lượng ma túy lớn như vậy là để đảm bảo trong quá trình xin việc làm vẫn có ma túy phục vụ nhu cầu cá nhân. Số ma túy này do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc thiểu số khoảng 30 tuổi không rõ tên tuổi và địa chỉ vào lúc 17 giờ ngày 27/01/2018 tại Đồi Dốc Mới thuộc xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An với giá 2.000.000 đồng với mục đích cất trữ sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được danh tính đối tượng nêu trên nên chưa có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 26/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo T khai nhận: vào 15 giờ 45 phút ngày 28/01/2018, sau khi xuống khỏi xe khách đi từ Yên Thành lên Đô Lương tại khu vực ngã ba gần Trạm cảnh sát giao thông 1-7 thuộc địa phận xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, bị cáo đã bị Tổ công tác Công an huyện Đô Lương kiểm tra, phát hiện và thu giữ 02 gói ma túy bị cáo đang cất giữ trong túi quần bên trái. Số ma túy này bị cáo cất giữ từ chiều ngày 27/01/2018 sau khi mua được của người đàn ông dân tộc thiểu số tại huyện Tương Dương với giá 2.000.000 đồng. Bị cáo khai nhận, do mình đã nghiện ma túy từ lâu, mỗi ngày phải dùng tương đối cao liều nên tất cả ma túy đều phục vụ cho nhu cầu sử dụng cá nhân bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng là số bao nilông gói ma túy và 7,904g ma túy còn lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung:

Vào 15 giờ 45 phút, ngày 28/01/2018, tại khu vực ngã ba gần Trạm cảnh sát giao thông 1-7 thuộc địa phận xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy (Heroin) có khối lượng 8,222g với mục đích sử dụng. Hành vi của Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về phòng chống ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Ma túy đã và đang trở thành hiểm hoạ lớn của nhân loại; trở thành vấn đề nhức nhối trong đời sống cộng đồng. Ma túy đã hủy hoại đời sống con người, làm suy thoái nòi giống, làm xói mòn các giá trị văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Ngày 25/4/2016, bị cáo bị xử phạt 02 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích thì từ ngày 27/01/2018 đến ngày 28/01/2018, bị cáo lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp tái phạm – là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần lên một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự) nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 0,318g ma túy thu giữ của Nguyễn Hữu T đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; vỏ bao nilông là vật mang dấu vết tội phạm và số ma túy còn lại (7,904g) được niêm phong là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

Vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc thiểu số đã bán ma túy cho bị cáo nhưng không xác minh được danh tính, cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra xác minh và xử lý sau.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/01/2018.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ bao nilông và số ma túy còn lại (7,904g) được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư màu nâu có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương và phản ánh tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2018.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ