vanban.org

Bản án 29/2018/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VÕ THỊ PH-NGUYEN VAN THANHĐ"
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 29/2018/HN- ST
Ngày 13/4/2018
V/v: “Xin ly hôn ”

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH B N TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Lắm

Ông Dương Ánh Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 336/2017/TLST-HN ngày 13 tháng 11 năm 2017 về việc “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐST-HN ngày 12 tháng 3 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 57/2018/QĐST-HN ngày 27/3/2018 giữa:

* Nguyên đơn: Võ Thị Ph, sinh 1988 (có mặt)

Trú tại: Ấp H, xã L, huyện M, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn:

Nguyễn Văn Thành Đ sinh 1984 (vắng mặt không có lý do)

Trú tại: Ấp H, xã L, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Thị Ph trình bày:

Vào năm 2006 do mai mối, nên tôi và anh Đ đã tiến tới hôn nhân, chúng tôi có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam. Sau khi cưới nhau chúng tôi sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Đ không chí thú làm ăn, không quan tâm đến cuộc sống của gia đình, từ đó chúng tôi đã sống ly than cách nay hơn 01 năm. Nay tôi xin ly hôn với Đ.

Quá trình sống chung chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh 05/9/2008, con hiện đang sống với tôi, nay tôi xin nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn Nguyễn Văn Thành Đ vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án và cũng không có bất cứ lời trình bày nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án mặt dù đã được tống đạt hợp lệ đầy đủ, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Ph.

Về con chung: Đề nghị giao cháu T cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung nợ chung: Không có, nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về quyền khởi kiện: Chị Ph cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị Ph có quyền khởi kiện.

Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị Ph là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã L, huyện M. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.

Bị đơn Nguyễn Văn Thành Đ đã được Tòa án triệu tập xét xử hai lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

* Về nội dung giải quyết vụ án:

Chị Võ Thị Ph, anh Nguyễn Văn Thành Đ kết hôn trên cơ sở mai mối nhưng tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh, chị sống có hạnh phúc trong thời gian dài có con chung lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, từ đó vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và anh, chị đã quyết định sống ly thân bỏ mặt cho nhau. Tại tòa chị Ph vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh Đ quá trình thụ lý giải quyết, Tòa án đã triệu tập anh rất nhiều lần để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do và anh cũng không có bất cứ văn bản nào gửi Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Điều đó cho thấy anh Đ không có thiện chí muốn trở về chung sống với chị Ph. Do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ph là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thành T, sinh 05/9/2008, con hiện đang sống với chị Ph. Tại phiên tòa nguyện vọng của chị Ph muốn được nuôi con, yêu cầu của chị Ph phù hợp với ý chí của cháu T tại biên bản lấy ý kiến của Tòa án ngày 29/11/2017 đối với cháu T, nên giao cháu T cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, nên ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập.

Chị Ph phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

Áp dụng điều 51, 56, 81,82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Ph. Chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn Thành Đ.

Về con chung: chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành T, sinh 05/9/2008, anh Nguyễn Văn Thành Đ không phải cáp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị Ph, anh Được Đ quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Ph chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0008880 ngày 13/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc là đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi ành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngaỳ kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ