- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Th G - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị Gh phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2017/HSST. Ngày: 29 - 12 - 2017. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Huấn - Bà Nguyễn Thị Lư.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số; 76/2017/TLST- ST ngày 27 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; 28/2017/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 12 năm 2017, đối với bị cáo.
Giàng Thị Gh; tên gọi khác, không, sinh năm 1989. Trú tại; BL, xã T X, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Giới tính nữ, tôn giáo không, Quốc tịch Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Giàng A Kh ( đã chết), con bà; Vàng Thị S 52 tuổi; bị cáo có chồng; Mùa A C 30 tuổi, bị cáo có 03 con, con lớn nhất 11 tuối, con nhỏ nhất 3 tuổi. Tiền án, tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 04 tháng 6 năm 2017 cho đến ngày 13/6/2017 bị cáo được tại ngoại, trong quả trình được tại ngoại bị cáo bỏ trốn, bị truy nã theo Quyết định truy nã số 06/QĐTN ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La cho đến nay việc truy nã không có kết quả, bị cáo vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 01/6/2017, khi Giàng Thị Gh đang ở nhà tại bản L, xã TX, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Thì có một người phụ nữ dân tộc Mông, không quen biết đến nhà Gh và đưa cho Gh 120 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu xanh nhờ Gh bán hộ và hẹn khi nào Gh bán được ma túy thì đưa lại cho người đó 3.000.000 đồng. Gh đồng ý và mang gói hồng phiến cất vào trong tủ quần áo của gia đình để có ai đến hỏi mua thì bán. Đến 14 giờ 0 phút ngày 04/6/2017, tổ công tác Công an xã TX huyện Vân hồ, tỉnh Sơn La phối hợp với đồn Biên phòng Tân Xuân làm nhiệm vụ kiểm tra nhà Giàng Thị Gh, Giàng Thị Gh tự giác lấy gói hồng phiến cất trong tủ quần áo giao nộp cho tổ công tác, tổ công tác lập biên bản người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án gồm có.
01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 120 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp ( Gh khai là ma túy tổng hợp viên hồng phiến ), cân tịnh được 12,49 gam, rút 1,01 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy còn lại 11,48 gam ( Đã được niêm phong ).
Tại bản kết luận giám đinh số: 574/KLMT ngày 8/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “G” là chất ma túy; loại chất Methamphetamine. Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 1,01gam, tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 12,49gam, loại chất Methamphetmine”.
Tại bản Cáo trạng số; 54/CT-VKS ngày 27/7/2017 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng Thị Gh về tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị Gh phạm tôi: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Thị Gh mức án từ 4 ( Bốn ) năm tù đến 4 ( Bốn ) năm 6 ( Sáu ) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng Thị Gh được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 11,48 gam Methamphetamie và vỏ gói niêm phong ban đầu, 02 que test thử và vỏ gói que đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Giàng Thị Gh về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và quan điểm luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Ngày 04/6/2017, Giàng Thị Gh trú tại bản L, xã T X, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Bị phát hiện và bắt quả tang tại nhà ở của bị cáo. Đang cất giấu trái phép 12,49 gam Methamphetaime. Mục đích nhận lại 12,49gam Methamphetamie, cất giấu tàng trữ để bán lại kiếm lời. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với Kết luận giám định ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo cất giấu 12,49 gam Methamphetamine, chưa kịp bán lại, trao đổi thanh toán để kiểm lời thì bị phát hiện và bắt quả tang. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng Thị Gh phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý, vi phạm khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 như Quyết định truy tố và Quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “ Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Xét hành vi phạm tội tàng trữ trái trái phép chất ma túy của bị cáo Giàng Thị Gh nhận ma túy để bán lại với số lượng, giá trị không lớn mục đích nhận lại ma túy để bán lại kiếm lời thu lợi bất chính. Xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo mua, bán 12,49gam Methaphetamine cần vận dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Giàng Thị Gh.
Xét nhân thân bị cáo Giàng Thị Ghố phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhân thân bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí hiểu biết pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Song qúa trình bị cáo được tại ngoại đã bỏ trốn, gây khó khăn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử. Xét quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ là có căn cứ đúng pháp luật. Bị cáo Giàng Thị Gh phạm tội nghiêm trọng nay xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng đối với hành vị phạm tội của bị cáo mớí đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo Giàng Thị Gh trốn tránh và việc truy nã không có kết quả, Tòa án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự tố tụng. Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ xét xử vắng mặt bị cáo Giàng Thị Gh vận dụng điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Thời gian chấp hành thi hành án phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày vào trại để chấp hành án và được khấu trừ đi thời gian tạm giữ.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Giàng Thị Gh còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sống chủ yếu vào nông nghiệp, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với nguồn gốc 12,49 am Methamphetmine bị thu giữ, theo lời khai của Giàng Thị Gh là nhận của một người phụ nữ dân tộc Mông để bán lại kiểm lời, Gh, không biết tên tuổi và địa chỉ. Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho bị cáo Giàng Thị Gh.
. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy của bị cáo là hàng quốc cấm, Nhà nước cấm lưu hành,vỏ gói niêm phong ban đầu và test thử ma túy, thử thai không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy. Vận dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Giàng Thị Gh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước vận dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Giàng Thị Gh, có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm a, đ khoản 2 Điều 76, Điều 99, điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Giàng Thị Gh phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng Thị Gh 4 ( Bốn ) năm tù, được khấu trừ đi 10 ( mười ) ngày tạm giữ. Bị cáo phải thi hành tiếp là 3 ( Ba ) năm 11 ( Mười một ) tháng 20 ( Hai mươi ) ngày tù “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày vào trại để chấp hành án”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng Thị Gh được quy đinh tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
3. Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 11,48 gam Methamphetamie và vỏ gói niêm phong ban đầu. 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng test thử ma túy cùng vỏ bao đựng que. 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng test thử thai cùng vỏ bao đựng que
4. Về án phí: Bị cáo Giàng Thị Gh phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng chẵn ) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Giàng Thị Gh biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết bản án theo thủ tục hợp lệ./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án ND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
- Công an;
- Trại giam;
- THA hình sự;
- THA dân sự;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ.
Đỗ Tuấn Long
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tuấn Long |