- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn C - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội: Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật tháng cải tạo; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 29/2017/HSST Ngày: 22/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện; bà Cao Lệ Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung, Thư ký toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Viên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân huyện S, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Tòng Văn C, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1985; nơi ĐKNKTT: bản Nà U, xã N, huyện Mai S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Tòng Văn T (đã chết), con bà: Cà Thị M; có vợ: Tòng Thị Y, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh 2008; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 18/01/2007 bị TAND huyện S xử phạt 5.000.000VNĐ về tội đánh bạc (Chưa được xoá án tích); bị tạm giữ từ 31/5/2017 đến ngày 06/6/2017, sau đó được tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 31/5/2017, tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ tại bản Tiên C, xã Mường S, huyện S đã phát hiện bắt quả tang 03 đối tượng là Tòng Văn C ở bản Nà U, xã N, huyện Mai S, Tòng Văn T và Quàng Văn P đều trú tại bản Tiên C, xã Mường S, huyện S có hành vi đánh bạc được thua b ng tiền, hình thức đánh Tá Lả tại nhà của Tòng Văn T. Tổ công tác đã lập biên bản và thu giữ tang vật gồm: Một bộ bài tú lơ khơ 52 quân; một chiếu nhựa; thu giữ của T số tiền 720.000 đồng; thu giữ của C 750.000 đồng, một xe mô tô Weva BKS 89N-0001 và một điện thoại; thu giữ của P 570.000 đồng và một điện thoại. Tổng cộng số tiền thu giữ của các đối tượng là 2.040.000VNĐ.
Tại cơ quan Điều tra xác định được như sau:
Khoảng 09h30 ngày 31/5/2017, do có công việc gia đình nên Tòng Văn C mượn xe mô tô của em vợ là Tòng Văn K, ở cùng bản đi đến nhà Tòng Văn T, ở bản Tiên C, xã Mường S, huyện S. Vào khoảng 10h10 phút cùng ngày, khi C đang ở nhà T thì có Quàng Văn P đến ngồi chơi nói chuyện. Ngồi được một lúc thì P rủ C và T đánh bạc b ng hình thức (Tá lả) ăn tiền, nghe vậy C và T đồng ý và cùng thống nhất ai thắng thì bỏ ra một khoản tiền để mua thực phẩm nấu ăn tại nhà T. Sau đó, P đi mua bộ bài tú lơ khơ 52 quân về rồi cả ba người cùng ngồi chơi tại phòng khách nhà T. Khi bắt đầu chơi C có 770.000đ; T có 800.000đ; P có 470.000đ nhưng chỉ bỏ ra 250.000đ vào mục đích đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Xác định được số tiền cụ thể bị cáo và các đối tượng bỏ ra sử dụng đánh bạc như sau: Tòng Văn C 770.000 đồng, bị thua 20.000 đồng; Tòng Văn T 800.000 đồng, thua 80.000 đồng; Quàng Văn P 250.000 đồng, thắng 100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 1.820.000 đồng. (Một tri u tám tr m hai mươi n h n đ n
Do có hành vi Đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên các đối tượng Tòng Văn T, Quàng Văn P đã bị cơ quan Điều tra ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Riêng Tòng Văn C đã có tiền án về tội Đánh bạc và chưa được xoá án tích, nên bị khởi tố và bị truy tố về hình sự.
Cáo trạng số: 91/KSĐT- TA ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Tòng Văn C về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù giam.
Vật chứng đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 1.820.000 đồng; tịch thu tiêu hu 01 bộ tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, cùng các chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh của bản cáo trạng; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng bị thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới, bị cáo nhất trí không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo và các đối tượng khác đã tụ tập đánh bạc b ng hình thức chơi “Tá lả” được thua b ng tiền vào ngày 31/5/2017, sau đó bị bắt quả tang. Tuy số tiền dưới 5.000.000 đồng, nhưng (tại thời điểm phạm tội mới, bị cáo chưa thi hành xon h nh phạt chính là (phạt tiền nên chưa được xoá án tích). Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Bị cáo Tòng Văn C phạm tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự. Như vậy, Khởi tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân đối với bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi Đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ làm thiệt hại kinh tế, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an và gây bức xúc tình hình địa phương. Để đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần xóa bỏ các tệ nạn nói chung ra khỏi đời sống xã hội, cần thiết phải xử lý các bị cáo nghiêm minh, nh m răn đe và để phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo đã có tiền án về tội đánh bạc, nay lại tái phạm tội và thuộc trường hợp chưa được xoá án tích. Tuy nhiên, sau khi tội phạm xảy ra bị cáo đã tích cực thi hành xong hình phạt chính của bản án trước và các quyết định khác của bản án.
- Việc chưa được xoá án tích lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng biện pháp tù giam mới tương xứng và đảm bảo tính răn đe. Song xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng; tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chấp hành đúng các quyết định của cơ quan tố tụng trước khi xét xử; bị cáo có chứng nhận hộ nghèo và thuộc diện gia đình chính sách (có bố được Nhà nước tặn thưởn Huân chươn chiến côn và Huân chươn chiến sĩ vẻ van Hiện tại, bị cáo đang là người bị mắc bệnh nặng, có sao trích bệnh án của Bệnh viện y học cổ truyền - thuộc Sở y tế tỉnh Sơn La; được gia đình và chính quyền địa phương bảo lãnh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do vậy, không nhất thiết phải áp dụng biện pháp tù giam đối với bị cáo, mà chỉ cần cho bị cáo cải tại, giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa.
Đối với các đối Tòng Văn T, Quàng Văn P có hành vi đánh bạc cùng bị cáo, nhưng tổng số tiền dưới 5.000.000 đồng. Do không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về đề nghị mức án của Kiểm sát viên tại phiên toà là nghiêm khắc, (từ 06 đến 09 thán tù . Để có một mức án tương xứng, phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm trị, răn đe, nhưng cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc nh m có hình phạt đúng mức.
Về vật chứng của vụ án:
- Số tiền 1.820.000 đồng được xác định là tiền dùng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
- Dụng cụ đánh bạc: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên sẽ được mi n án phí và được mi n khấu trừ thu nhập theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội: Đánh bạc.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 31 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Tòng Văn C 36 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 06 ngày tạm giữ b ng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thi hành tiếp 35 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã N, huyện Mai S, tỉnh Sơn La nhận được bản án và Quyết định thi hành án của Toà án.
Giao bị cáo Tòng Văn C cho UBND xã N, huyện Mai S để giám sát, giáo dục.
2. Mi n khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
"Trườn hợp n ười bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú th thực hi n theo điều 75 luật thi hành án h nh sự".
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hu : 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ hoa văn màu trắng đã qua sử dụng và 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền VNĐ: 1.820.000 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại hiệu SAMSUNG màu vàng đồng đã qua sử dụng có số IMEL: 359929073605732. tạm giữ của Tòng Văn Cường.
Theo biên bản iao nhận vật chứn , tài sản n ày 22/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Sôn Mã, tỉnh Sơn La
4. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được mi n án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; -VKS huy n; -Thi hành án h nh sự; -Thi hành án dân sự; -Bị cáo; -N ười có QL,NVLQ; -Sở tư pháp tỉnh; -Lưu HS; -Lưu VP. Hội Thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ Toạ PT Hội Thẩm nhân dân TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Quyết. Các Hội thẩm nhân dân: Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự. đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: T òng V ăn C ư ờng. sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận các bị cáo tại phiên toà; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100 %. Nhất trí. II. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: hình sự. Xử phạt: T òng V ăn C ư ờng trừ 09 ngày tạm giữ b ng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thi hành tiếp tháng ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND thị trấn Sông Mã nhận được quyết định Quyết định thi hành án cải không giam giữ của Toà án. Mã để giám sát, giáo dục. Mi n khấu trừ thu nhập cho bị cáo. th thực hi n theo điều 75 luật thi hành án h nh sự". Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100 %. Nhất trí. 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. qua sử dụng và 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng. trăm hai mươi nghìn đồng). đã qua sử dụng có số IMEL: 359929073605732. tạm giữ của Tòng Văn Cường. thi hành án dân sự huy n Sôn Mã, tỉnh Sơn La Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được mi n án phí hình sự sơ thẩm. hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lƣờng Văn Quyết CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Sôn Mã, n ày thán n m 2017 BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2017, tại phòng nghị án, Hội Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo T òng V ăn C ư ờng phạm tội: Đánh bạc. 1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật tháng cải tạo không giam giữ. Được Giao bị cáo T òng V ăn C ư ờng cho UBND x ã M ư ờng Sai huyện Sông "Trườn hợp n ười bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú 2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản - Tịch thu tiêu hu : 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ hoa văn màu trắng đã - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền VNĐ: 1.820.000 đồng (Một triệu tám - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại hiệu SAMSUNG màu vàng đồng Theo biên bản iao nhận vật chứn , tài sản n ày 22/8/2017 của Chi cục 3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ Điều 12 Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong Hôị Thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ Toạ PT Hội Thẩm nhân dân TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lƣờng Văn Quyết |