- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Bá G - Đặng Thị H"
- Tòa quyết gì? :................................................................................................................
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 29/2017/DS-ST Ngày 11 - 7 - 2017 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NNNHHHÂÂÂNNN DDDAAANNNHHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Bé
2. Ông Đinh Ngọc Dình
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2017, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2017/QĐST - DS ngày 12 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá G (Tên gọi khác: Hoàng), sinh năm 1968;
Địa chỉ: đường T, Phường 1, thành phố T, tỉnh Long An.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1967;
2.2. Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
(Bà H, ông C, ông G có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 4 năm 2017, tại phiên hòa giải ngày 09 tháng 6 năm 2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Bá G trình bày: Ông có cho bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C vay tiền nhiều lần, các lần bao nhiêu tiền, ông không nhớ nhưng đến ngày 21 tháng 8 năm 2015, ông với bà H, ông C đối chiếu nợ thì bà H và ông C còn nợ ông số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Sau đó, bà H, ông C có trả tiền lãi cho ông với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng), những tháng tiếp theo ông C, bà H không có tiền trả thì ghi tiếp trên giấy nợ thêm là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H, ông C có nghĩa vụ trả cho ông với số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi, tính lại tiền lãi theo quy định của pháp luật, số tiền bà H, ông C đã trả cho ông đối trừ vào tiền lãi. Thời gian tính lãi từ ngày 21 tháng 8 năm 2015 đến ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 09 tháng 5 năm 2017 là 1 năm, 8 tháng 18 ngày, với mức lãi suất là 9%/năm (bằng 0,75/% tháng và 0,025%/ngày), cụ thể tiền lãi như sau:
50.000.000đ x 1năm x 9%/năm = 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng);
50.000.000đ x 8 tháng x 0,75%/tháng = 3.000.000đ (Ba triệu đồng);
50.000.000đ x 18 ngày x 0,025%/ngày = 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tổng cộng tiền lãi là: 7.725.000đ (Bảy triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Đối trừ số tiền bà H, ông C đã trả là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Như vậy, tiền lãi ông C, bà H còn nợ là 5.725.000đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Ông yêu cầu bà H, ông C trả tiền lãi và tiền gốc một lần, hạn cuối cùng trả tiền là ngày 09 tháng 7 năm 2017. Ông C, bà H có thế chấp cho ông giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất số 1364, 1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã Thuận Mỹ nhưng đã chuyển nhượng cho người khác, diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320 m2, loại đất ở tại nông thôn (ONT).
Bị đơn bà Đặng Thị H trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn C có vay tiền ông Nguyễn Bá G nhiều lần, các lần bao nhiêu tiền, bà không nhớ nhưng đến ngày 21 tháng 8 năm 2015, bà, ông C với Giang đối chiếu nợ thì bà và ông C còn nợ ông G số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) sau đó, bà, ông C có trả cho ông G tiền lãi 2.000.000đ (Hai triệu đồng), những tháng tiếp theo bà và ông C không có tiền trả thì ghi tiếp trên giấy nợ thêm là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Ông G yêu cầu bà, ông C có nghĩa vụ trả cho ông G với số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi theo cách tính của ông G trình bày, bà đồng ý. Như vậy, bà, ông C đồng ý trả cho ông G số tiền gốc 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và trả thêm tiền lãi 5.725.000đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Hiện nay, kinh tế gia đình khó khăn nên không có tiền trả cho ông G một lần, bà yêu cầu ông G cho bà và ông C trả mỗi tháng với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Bà và ông C có thế chấp cho ông G giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất số 1364, 1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã T nhưng đã chuyển nhượng cho người khác, diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320 m2, loại đất ở tại nông thôn (ONT). Bà yêu cầu ông G trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà.
Bị đơn ông Huỳnh Văn C trình bày: Ông cùng bà H vay tiền ông G, còn nợ của ông G số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi 5.725.000đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) như bà H trình bày là đúng. Ông thống nhất theo cách thức trả tiền do bà H trình bày.
Nguyên đơn ông Nguyễn Bá G trình bày: Ông đồng ý trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho bà H, ông C, khi ông C, bà H trả đủ tiền cho ông. Do hoàn cảnh của ông C, bà H khó khăn nên ông yêu cầu ông C, bà H trả tiền cho ông hai lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Trả 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), hạn cuối trả tiền là ngày 09 tháng 9 năm 2017.
Lần thứ hai: Trả số tiền còn lại 25.725.000đ (Hai mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng), hạn cuối trả tiền là ngày 09 tháng 12 năm 2017.
Bị đơn ông Huỳnh Văn C, bà Đặng Thị H cùng xác định: Không có khả năng trả tiền theo yêu cầu của ông G, giữ nguyên yêu cầu trả mỗi tháng trả 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật.
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Các Điều 298, 466, 468, 470 Bộ Luật dân sự 2015; Áp dụng Điều 343 của Bộ Luật dân sự năm 2005; Áp dụng nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nguyên đơn số tiền 55.725.000đ (Năm mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Phương thức thanh toán 02 lần, cụ thể lần 1: Ngày 09 tháng 9 năm 2017 trả số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); Lần 2. Ngày 09 tháng 12 năm 2017 trả số tiền còn lại là 25.725.000đ (Hai mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Buộc nguyên đơn trả bị đơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đặng Thị H thuộc thửa đất số 1364,1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc xã Thuận Mỹ có diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320m2, loại đất ở nông thôn (ONT).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Nguyễn Bá G khởi kiện buộc bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C, cư trú tại số nhà 105/1, ấp Bình Thạnh 1, xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An trả tiền vay theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm.
[2] Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, lời trình bày của ông Huỳnh Bá G phù hợp với lời trình bày của bà Đặng Thị H, ông Huỳnh Văn C, phù hợp với bản tự khai của bà H đề ngày 02 tháng 6 năm 2017, biên nhận đề ngày 21 tháng 8 năm 2015 nên có cơ sở xác định: Ông Nguyễn Bá G có cho bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C vay 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về tiền vay.
[3] Ông Nguyễn Bá G yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C trả cho ông số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và trả tiền lãi 5.725.000đ, (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã được bà H, ông C thừa nhận và đồng ý trả toàn bộ số tiền cho ông G. Do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Bá G là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Ông G yêu cầu bà H, ông C trả 2 lần, ngày cuối cùng trả toàn bộ số tiền là ngày 09 tháng 12 năm 2017 nhưng bà H, ông C cho rằng không có khả năng vì kinh tế gia đình quá khó khăn nên chỉ có khả năng trả mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Yêu cầu của bà H, ông C không được nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[5] Bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C có mối quan hệ là vợ chồng, cùng thừa nhận nợ nên ông Nguyễn Bá G yêu cầu bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho ông G là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông G không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
[6] Việc bà H, ông C trả số tiền nêu trên cho ông G vào thời gian nào, bao nhiêu lần thì các bên có quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án Dân sự.
[7] Bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C yêu cầu ông Nguyễn Bá G trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Đặng Thị H đứng tên đối với thửa đất số 1364, 1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã T (Tại trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại VI. Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thể hiện việc chuyển nhượng cho người khác, diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320 m2, loại đất ở tại nông thôn (ONT)) đã được ông Nguyễn Bá G chấp nhận và đồng ý trả. Do đó, buộc ông Nguyễn Bá G trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Đặng Thị H đứng tên với thửa đất số 1364, 1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã T (Diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320 m2, loại đất ở tại nông thôn (ONT)) cho bà Đặng Thị H, ông Huỳnh Văn C.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Bá G không phải chịu, ông G đã nộp 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), ông G được nhận lại. Bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 55.725.000đ, (Năm mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) x 5% = 2.786.250đ (Hai triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 298, Điều 463, Điều 466 và Điều 468; Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá G về việc buộc bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C trả tiền vay.
Buộc bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Bá G số tiền là 55.725.000đ (Năm mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng), (trong đó số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và trả tiền lãi 5.725.000đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Buộc ông Nguyễn Bá G trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Đặng Thị H đứng tên với thửa đất số 1364, 1870 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (Diện tích còn lại của thửa đất số 1364 là 320 m2, loại đất ở tại nông thôn (ONT)) cho bà Đặng Thị H, ông Huỳnh Văn C.
4. Ông Nguyễn Bá G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông G đã nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án với số tiền là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007582 ngày 08 tháng 5 năm 2017 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An, ông G được nhận lại.
Bà Đặng Thị H và ông Huỳnh Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.786.250đ (Hai triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng), ông C, bà H có nghĩa vụ nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nôi nhaän:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Long An (1b);
- VKSND huyện Châu Thành (1b);
- Chi cục THA huyện Châu Thành (1b);
- Các đương sự (1b);
- Lưu hồ sơ (1b); Lưu văn thư (1b).
Diệp Song Tiền
Hội Thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toa phiên tòa
Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
TÒA ÁN NHÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(1)
DÂN.............
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số:(2)........../........../..........
Ngày:(3) ..........-..........-................
V/v tranh chấp(4)..........................
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(5)
TÒA ÁN NHÂN DÂN ..............................
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(6)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà)……………………….……………..
Thẩm phán: Ông (Bà)...................................................................................
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông (Bà)...................................................................................................
2. Ông (Bà)...................................................................................................
3. Ông (Bà)...................................................................................................
- Thư ký phiên tòa: Ông (Bà)……………………………………..……….(7)
(8)
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ....................... tham gia phiên toà:
Ông (Bà)...........................................................-Kiểm sát viên.
(9)
Trong các ngày........ tháng........ năm........ tại ...........................................
(11)
xét xử sơ thẩm công khai(10) vụ án thụ lý số:.........../.........../TLST-..........
(12) ngày........ tháng........ năm........ về tranh chấp....................................................
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:................./................/QĐXX-ST
ngày........ tháng........ năm........ giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:(13).........................................................................................
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:(14)...............................................
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:(15) .......................
(16)
2. Bị đơn: .................................................................................................
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:(17).......................................................
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:(18) ...............................
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập, tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc tham gia tố tụng với bên bị đơn):(19).............................
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:(20).....
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan:(21)................................................................................................................
4. Người làm chứng(22)..................................................................................
5. Người giám định:(23) .................................................................................
6. Người phiên dịch:(24).................................................................................
(25)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
(26)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] ................................................................................................................
[2] ................................................................................................................
[3] ................................................................................................................
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào…………(27) ...............................................................................
(28)
:................................................................................................................
..................................................................................................................... (29)
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:
Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:
(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).
(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc
trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).
(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.
(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án
nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1)
song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).
(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).
Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).
(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).
(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng,
năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).
(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.
(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có
đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. Hoäi thaåm nhaân daân toøa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân |