vanban.org

Bản án 289/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phan Quốc M 04 (bốn) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.

TAND TP . HCM; Sở Tư pháp TP . HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Quốc M - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phan Quốc M 04 (bốn) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 289/2025/HS-ST
Ngày: 14/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (địa chỉ: số A đường số F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 188/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số số 236/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/HSST-QĐHPT ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Quốc M, sinh ngày 30/9/2001; Giới tính: Nam; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 1 đường T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 351/12 đường B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phan Vĩ T và bà Ngô Ngọc P; bị cáo chưa có vợ; bị cáo có 01 con sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 20/11/2024 (có mặt).

- Bị hại: Em Bùi Võ Ngọc K, sinh ngày 29/10/2004

Địa chỉ: Số E Đường B, khu phố A, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Phan Quốc M có quan hệ tình cảm với em Bùi Võ Ngọc K (sinh ngày 29/10/2004) từ năm 2018. Tháng 5/2019, M có chở K về nhà tại số C đường B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh chơi và quan hệ tình dục với K. Đến cuối tháng 12/2019, gia đình của K có tổ chức sinh nhật cho chị của K tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì M có đi cùng. Tại đây, M tiếp tục quan hệ tình dục với K (không nhớ rõ địa chỉ khách sạn) tại thành phố Đ. Đến tháng 01/2020, trong một lần đi sinh nhật bạn thì M và K thuê một khách sạn (không nhớ rõ địa chỉ khách sạn) quan hệ tình dục với nhau. Khoảng 01 tháng sau thì khánh báo tin cho M biết đã có thai. Sau đó, gia đình của M có đến đón K về nhà của M chăm sóc. Tại nhà của M, K và M tiếp tục quan hệ với nhau 02 lần. Đến ngày 15/9/2020, K sinh 01 bé gái tên Bùi Ngọc Khánh A. Trong thời gian này, giữa M và K phát sinh mâu thuẫn nên K bế con về nhà mẹ đẻ sinh sống.

Đến ngày 04/7/2023, anh Bùi Ngươn P1 là cha của K đến Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T đăng ký giấy khai sinh cho cháu A, thì công chức tư pháp-hộ tịch của Ủy ban nhân dân phường T phát hiện em Bùi Võ Ngọc K có thai khi chưa đủ 16 tuổi, nên chuyển hồ sơ đến Công an phường T giải quyết theo thẩm quyền.

Bản kết luận giám định ADN số 1.253-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 21/9/2023 của Trung tâm P2 – Sở y tế Thành phố H kết luận: Bùi Võ Ngọc K là người mẹ sinh học của Bùi Ngọc Khánh A.

Bản kết luận giám định ADN số 1.253A-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 30/10/2023 của Trung tâm P2 – Sở y tế Thành phố H kết luận: Phan Quốc M là người cha sinh học của Bùi Ngọc Khánh A.

Ngày 20/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam Phan Quốc M. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Phan Quốc M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Trách nhiệm dân sự: Giữa em Bùi Võ Ngọc K, gia đình em K và gia đình bị cáo Phan Quốc M đã thỏa thuận bồi thường xong về trách nhiệm dân sự. Em Bùi Võ Ngọc K và gia đình đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phan Quốc M.

[2] Bản cáo trạng số 190/CT-VKSTPTĐ ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Quốc M về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d Khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phan Quốc M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tại phần luận tội đã rút một phần quyết định truy tố. Cụ thể: Hành vi phạm tội của của bị cáo Phan Quốc M vào tháng 5/2019 bị cáo M chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Viện kiểm sát rút một phần truy tố đối với hành vi trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phan Quốc M phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Phan Quốc M với mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Bị cáo Phan Quốc M không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và bị cáo nói lời sau cùng xin lỗi bị hại, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng cuối tháng 12/2019, Phan Quốc M thực hiện hành vi quan hệ tình dục với em Bùi Võ Ngọc K, sinh ngày 29/10/2004, tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến tháng 01/2020, M và K đi tham dự sinh nhật bạn, sau đó có quan hệ tình dục với nhau tại khánh sạn. Hậu quả, ngày 15/9/2020, K sinh được một bé gái đặt tên Bùi Ngọc Khánh A.

Tại Bản kết luận giám định ADN số 1.253A-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 30/10/2023 của Trung tâm P2 –Sở y tế Thành phố H kết luận: Phan Quốc M là người cha sinh học của Bùi Ngọc Khánh A.

Bản kết luận giám định ADN số 1.253-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 21/9/2023 của Trung tâm P2 –Sở y tế Thành phố H kết luận: Bùi Võ Ngọc K là người mẹ sinh học của Bùi Ngọc Khánh A.

Hành vi của bị cáo Phan Quốc M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thuộc tình tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Làm nạn nhân có thai”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, d Khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm, đặc biệt trong tình hình hiện nay tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em đang có chiều hướng gia tăng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa em Bùi Võ Ngọc K, gia đình em K và gia đình bị cáo Phan Quốc M đã thỏa thuận bồi thường xong về trách nhiệm dân sự. Em Bùi Võ Ngọc K và gia đình đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phan Quốc M, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, d Khoản 2 Điều 145; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc M 04 (bốn) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.

2. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phan Quốc M phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Án xử kín tuyên án công khai theo thủ tục sơ thẩm. Bị cáo Phan Quốc M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Em Bùi Võ Ngọc K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ