vanban.org

Bản án 289/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 21/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Xa Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Phạm Anh A 1. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Anh A và đp - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Anh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Xa Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 289/2023/HSST
Ngày 21/11/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huệ; Ông Chu Trần Vĩnh

- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bùi Bích Phượng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2023/TLST-HS, ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2023/HS-QĐ ngày 06/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Anh A, sinh năm 1993 tại Phú Thọ; Nơi thường trú: Phố K, thị trấn T, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Phạm Ngọc S; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H; Sinh năm 1968; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vợ: Đinh Thị L, sinh năm 2004; Có 03 con (Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 406, do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 02/8/2023; Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 25/7/2023 đến ngày 03/8/2023, hủy bỏ biện pháp tạm giữ; Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Xa Văn B, sinh năm 1998 tại Hòa Bình; Nơi thường trú: Thôn M, xã N, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên nhà hàng; Họ và tên bố: Xa Văn M; Sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Bùi Thị T; Sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 405, do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 02/8/2023; Bị bắt quả tang ngày 24/7/2023; Hiện đang bị giam giữ tại Trại Tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo B: Bà Nguyễn Phương Anh, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Phạm Anh A và bị cáo Xa Văn B có mối quan hệ quen biết với nhau nên bị cáo B biết bị cáo A có chỗ mua ma túy. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/07/2023, bị cáo B đang ở phòng trọ tại số 10, ngõ 63/5 Lê Đức Thọ, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì nhận được điện thoại của “Nam Còi” (không rõ nhân thân, bị cáo B quen khoảng 03 tháng) rủ bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo B đồng ý. Bị cáo B dùng điện thoại di động Iphone XSmax lắp sim số 0398089300 gọi cho bị cáo A qua Zalo có số điện thoại 0967902923 hỏi mua 01 “chỉ” ma túy loại Ketamine và 04 viên ma túy dạng “kẹo”, bị cáo A đồng ý bán với giá 4.500.000 đồng và cho bị cáo B nợ tiền. Do không có sẵn ma túy, bị cáo A gọi qua ứng dụng Telegram cho “Khiêm” (không rõ nhân thân, sử dụng tài khoản “Khiêm E”) hỏi mua 01 chỉ Ketamine và 04 viên ma túy dạng “kẹo”, Khiêm đồng ý bán với giá 4.200.000 đồng và hẹn đến khe của cột điện đầu ngách 180/46 Phú Mỹ, thuộc phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm để lấy, Khiêm sẽ giấu ma túy ở đó. Sau đó, bị cáo A gọi điện cho bị cáo B bảo đến địa chỉ trên lấy ma túy. Nhận được ma túy, bị cáo B cất vào túi quần bên phải rồi đi taxi đến trước chung cư Intracom ở số 33 Cầu Diễn thuộc phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm chờ “Nam”. Khi bị cáo B xuống xe, đang đứng đợi “Nam” thì bị cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bắt giữ quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ của bị cáo B: 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (5x10)cm bên trong chứa 01 túi nilong kích thước khoảng (2x3)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 04 viên nén màu nâu xám; 01 điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng, lắp sim số 0398089300; Thu giữ của bị cáo A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, lắp sim số 0967902923.

Tại Kết luận giám định số 5090/KL – KTHS ngày 31/7/2023, Phòng Kĩ thuật Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: 01 túi nilong bên trong có: Tinh thể màu trắng bên trong có 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,384gam; 04 viên nén màu nâu xám đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lương: 1,966gam.

Xét nghiệm nước tiểu đối với bị cáo B cho kết quả âm tính với ma túy, bị cáo A cho kết quả dương tính có sử dụng chất ma túy.

Tại Cáo trạng số 282/CT-VKS, ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố các bị cáo Phạm Anh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Xa Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Anh A mức án từ 42 - 48 tháng tù; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Xa Văn B mức án từ 26 - 30 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ, tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng, lắp sim số 0398089300; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, lắp sim số 0967902923; Bị cáo A phải chịu án phí, bị cáo B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, đầu ngách 180/46 Phú Mỹ, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, bị cáo Phạm Anh A đã có hành vi bán trái phép 1,384gam ma túy Ketamine và 1,966gam ma túy MDMA với giá 4.500.000 đồng cho bị cáo Xa Văn B. Hồi 21 giờ 40 phút ngày 24/7/2023, bị cáo B có hành vi tàng trữ số ma túy trên trước cổng chung cư Intracom ở số 33 Cầu Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo A đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo B đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Ma túy là chất gây nghiện, bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng các bị cáo vẫn cố tình mua bán kiếm lời, tàng trữ để sử dụng trái phép. Ma túy là hiểm họa cho xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hạnh vi phạm tội của hai bị cáo trong vụ án là độc lập với nhau, không có đồng phạm.

. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo A lần đầu vi phạm pháp luật, đã hoàn thành nghĩa vụ A sự có bố là ông Phạm Văn Sự là người có công, được Nhà nước tặng Huân chương chiến công, bị cáo B là người dân tộc Mường, đến từ xã Nánh Nghê, xã đặc biệt khó khăn (Theo Quyết định số 861/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), ông nội, ông ngoại là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và Huân chương chiến công - là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự với các bị cáo.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

3.3. Về nhân thân: Bị cáo B đã bị áp dụng biện áp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 34/2019/QĐ-TA ngày 29/03/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai với thời hạn 12 tháng kể từ ngày bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (Ngày 18/01/2019). Tiền sự này, bị cáo đã được xóa theo quy định của pháp luật nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

. Về hình phạt:

4.1. Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

4.2. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

. Về các vấn đề khác

5.1 Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của các bị cáo là chất gây nghiện, bị cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng, lắp sim số 0398089300 thu giữ của bị cáo B và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, lắp sim số 0967902923 thu giữ của bị cáo A là phương tiện để các bị cáo liên lạc mua bán ma túy, liên quan đến vụ án, có giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ.

5.2. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Xa Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Đối với bị cáo Phạm Anh A

2.1. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Anh A 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ 25/7/2023 đến 03/8/2023.

3. Đối với bị cáo Xa Văn B

3.1. Về điều luật áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

3.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Xa Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

4. Về các vấn đề khác: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 168; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

4.1. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ kí giáp lai của bị cáo B, cán bộ điều tra và giám định viên; Tịch thu sung quỹ một điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng, lắp sim số 0398089300 thu giữ của bị cáo Xa Văn B và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, lắp sim số 0967902923 thu giữ của bị cáo Phạm Anh A (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 32/24 ngày 30/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

4.2. Về án phí: Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ