vanban.org

Bản án 289/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2023. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 289/2023/HS-ST
Ngày 07-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vƣơng Thị Hồng Thanh.

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 425/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Hữu H, sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Không có nơi đăng ký thƣờng trú; nơi ở trƣớc khi bị bắt: Số D, đƣờng C, khu phố Đ, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Hữu G (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); tiền án: Bản án số 318/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/8/2021, nộp án phí ngày 03/11/2020; tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Bản án số 09/HS-ST ngày ngày 14/01/1998, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 tháng tù về tội “Cƣớp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/1998, nộp án phí tháng 3/1998;

+ Bản án số 241/2010/HSSTNgày 28/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 07 năm tù, về tội “Hiếp dâm” đến ngày 31/8/2013 đƣợc đặc xá, nộp án phí ngày 18/6/2012 và bồi thƣờng ngày 29/6/2012;

+ Ngày 19/8/2016, bị Công an phƣờng Đ, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng Quyết định xử phạt hành chính số 234/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 750.000 đồng, đóng phạt ngày 18/11/2016;

+ Ngày 16/5/2017, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, theo quyết định số 38/2017/QĐ-TA. Đến ngày 26/4/2018 đƣợc giảm thời hạn chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo Quyết định số 195/2018/QĐ-TA.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Dƣơng Thị Ngọc T1, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số A, T, Phƣờng A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2/ Lý Dƣơng Ngọc T2, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số B, T, Phƣờng H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị can Trần Hữu H, không có nghề nghiệp, sống lang thang là ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 cho đến khi bị bắt, ma túy mà H sử dụng là ma túy, loại Methamphetamine.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/05/2023, Trần Hữu H cùng với bạn gái là Lý Dƣơng Ngọc T2 điều khiển xe môtô, biển số 54Z4-5382 đi đến Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để dạo chơi và ăn uống. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H chở T2 vào quán cà phê không biển hiệu ở gần công viên “Lê Thị R” thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh uống cà phê. Lúc này, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H để T2 ngồi ở quán cà phê còn H đi bộ qua khu vực công viên “Lê Thị R” đề tìm gặp một ngƣời đàn ông chạy xe ôm (chƣa rõ nhân thân) đứng chờ khách ở khu vực công viên “Lê Thị R”, H hỏi mua 1.200.000 đồng ma túy đá, ngƣời đàn ông đƣa cho H 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng. H nhận gói ma túy và đƣa tiền cho ngƣời đàn ông. Khi mua đƣợc ma túy H bỏ vào túi quần phía trƣớc bên phải đang mặc rồi đi lại quán cà phê, nhƣng H không nói cho T2 biết việc H mua ma túy rồi H chở T2 về lại tỉnh Bình Dƣơng.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày H chở T2 về đến trƣớc nhà số C đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành Phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng A, thành phố D đi tuần tra trên địa bàn, phát hiện H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, đồng thời tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật.

Quá trình điều tra, Lý Dƣơng Ngọc T2 khai nhận không biết H mua ma túy và cất giấu trong ngƣời. Tiến hành kiểm tra (test) ma túy đối với Lý Dƣơng Ngọc T2 có kết quả dƣơng tính với ma túy loại Methamphetamine. Công an phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPHC ngày 20/05/2023 đối với Lý Dƣơng Ngọc T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền là 1.500.000 đồng.

Căn cứ Kết luận giám định số 267/KL-KTHS(MT) ngày 24/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lƣợng/trọng lƣợng: 2,4098gam.

Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 267/KL-KTHS(MT) ngày 24/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.

Xử lý vật chứng:

Đối với ma túy, loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại 2,2272gam là mẫu vật còn lại sau giám định đã đƣợc niêm phong không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô biển số 54Z4-5382, số khung B02838, số máy QMJ1B002838. Qua xác minh xác định đứng tên chủ sở hữu là bà Dƣơng Thị Ngọc T1, sinh năm 1985, thƣờng trú: số A, đƣờng T, Phƣờng A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, bà T1 khai nhận mua và đứng tên sở hữu xe môtô từ năm 2010 đến năm 2017 thì cho cha ruột là ông Dƣơng Văn C, sinh năm 1958, thƣờng trú: số B, đƣờng Đ, Phƣờng A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng, nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Ông C sử dụng xe đến năm 2022 thì chết, trƣớc khi chết ông C cho xe môtô trên cho con riêng là Lý Dƣơng Ngọc T2, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe cho chị T2.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho H tại khu vực công viên “Lê Thị R” thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D thông báo cho Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 302/CT-VKS-DS ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Hữu H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 2,2272gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của ngƣời tham gia tố tụng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/5/2023, trƣớc nhà số C đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành Phố D, tỉnh Bình Dƣơng, lực lƣợng Công an phƣờng A, thành phố D bắt quả tang Trần Hữu H có hành vi tàng trữ 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lƣợng 2,4098gam. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Trần Hữu H cất giấu 2,4098gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 302/CT-VKS-DS ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/8/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/8/2021, nộp án phí ngày 03/11/2020, tính đến ngày phạm tội mới bị cáo chƣa đƣợc xóa án tích nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, có nhân thân xấu.

Xử lý vật chứng: Xét 01 bì thƣ đƣợc niêm phong, bên trong chứa 2,2272gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lƣu thông cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô biển số 54Z4-5382, số khung B02838, số máy QMJ1B002838. Qua xác minh xác định ngƣời đứng tên chủ sở hữu là chị Dƣơng Thị Ngọc T1, sinh năm 1985, thƣờng trú: số A, đƣờng T, Phƣờng A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, chị T1 khai nhận mua và đứng tên sở hữu xe môtô từ năm 2010 đến năm 2017 thì cho cha ruột là ông Dƣơng Văn C, sinh năm 1958, thƣờng trú: số B, đƣờng Đ, Phƣờng A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng, nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Ông C sử dụng xe đến năm 2022 thì chết, trƣớc khi chết ông C cho xe môtô trên cho con riêng là Lý Dƣơng Ngọc T2, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe cho chị T2 là có căn cứ.

Đối với Lý Dƣơng Ngọc T2 khai nhận không biết H mua ma túy và cất giấu trong ngƣời, kết quả test ma túy đối với Lý Dƣơng Ngọc T2 là dƣơng tính với ma túy loại Methamphetamine. Công an phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPHC ngày 20/05/2023 đối với Lý Dƣơng Ngọc T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền là 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho H tại khu vực công viên “Lê Thị R” thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D thông báo cho Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.

Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị nghiện ma túy có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 thì ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dƣới 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 01 phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đƣợc niêm phong số 279/PC09, bên trong chứa 2,2272gam ma túy loại Methamphetamine.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Hữu H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ