vanban.org

Bản án 288/2025/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/07/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh H.

Đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Lê Kim H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "“Tranh chấp tiền bồi thường đất và tài sản trên đất”"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 158 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2025/DS-PT
Ngày: 17/7/2025
“Tranh chấp tiền bồi thường đất
và tài sản trên đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Bùi Lan Hương

Bà Thái Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp tiền bồi thường đất và tài sản trên đất” do bản án dân sự sơ thẩm số: 197/2024/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 216/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 507/2025/QĐ-PT ngày 18/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987.

Người đại diện theo ủy quyền của anh T: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954.

Cùng địa chỉ: Số H T, phường P (cũ: phường P, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1994.

3. Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số H T, phường P (cũ: phường P, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo uỷ quyền của chị H, chị T1: Chị Trần Kim L, sinh năm 1996.

Địa chỉ: F H, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T1: Ồng N Ý – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: F H, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Lê Kim H1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp G, xã A (cũ: xã A, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của anh H1: Chị Trần Thị L1, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Hẻm G, Tổ G, ấp H, xã L (cũ: xã L, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đỗ Thị Tường D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp G, xã A (cũ: xã A, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện theo ủy quyền cho chị D: Chị Trần Thị L1, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Hẻm G, Tổ G, ấp H, xã L (cũ: xã L, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

2. Cháu Lê Tuấn A, sinh ngày 30/11/2009.

3. Cháu Lê Đỗ Quỳnh A1, sinh ngày 21/02/2014.

4. Cháu Lê Đỗ Vân A2, sinh ngày 21/02/2014.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu Tuấn A, Quỳnh A1, Vân A2: Anh Lê Kim H1, sinh năm 1983 và chị Đỗ Thị Tường D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp G, xã A (cũ: xã A, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

5 Anh Lê Đình Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ: C Nguyễn Văn L2, xã B (cũ: xã B, huyện B), Thành Phố H.

6. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Nai).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Anh Đ.

Địa chỉ: Khu P, xã L (cũ: thị trấn L, huyện L), tỉnh Đồng Nai.

Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1; người đại diện theo uỷ quyên của nguyên đơn chị H, anh T là bà Nguyễn Thị M; Bị đơn anh Lê Kim H1.

(Luật sư Ý, chị H, chị L, chị T1, anh H1, chị L1 có mặt; ông Đ, bà M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Q vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thanh H; chị Nguyễn Thị Thanh T1; chị Trần Kim L đại diện theo uỷ quyền của chị H, chị T1; anh Nguyễn Thanh T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 (thửa cũ là 868 tờ bản đồ số 07) xã A, huyện L do bà Lê Thị Năm T2 cho anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H năm 2019 nhưng ký với hình thức hợp đồng chuyển nhượng và được Phòng C tỉnh Đồng Nai ký chứng thực vào ngày 28/3/2019. Do không thể làm được hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vì nhà nước yêu cầu là xác nhận quan hệ ruột thịt với bà N nên rất khó khăn nên bà N làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thời điểm bà N còn sống là ở chung với bà M, chị H, chị T1, anh T.

Bà Lê Thị N không có chồng con và không có con nuôi nhưng trong sổ hộ khẩu có anh Lê Đình Q ghi là con nuôi, nhằm mục đích cho anh Q đi học tại Thành phố Hồ Chí Minh vì thời điểm đó anh Q mới từ tỉnh Phú Yên vào. Bà N với anh Q quan hệ như thế nào bà M không biết. Theo bà M được biết bà N có một phần đất duy nhất ở L là thửa số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn K vào ngày 02/5/2001, ngoài ra bà N không còn thửa đất nào khác ngoài thửa đất trên. Hợp đồng cho tặng đất ngày 10/10/2010 do anh H1 cung cấp cho Tòa án không phải chữ ký của bà Lê Thị N. Cuối năm 2011, bà N nhận tiền đền bù ở Xa lộ H và dùng số tiền bồi thường trên để xây dựng căn nhà hiện nay anh H1 đang tranh chấp; bà N có nhờ ông Đỗ Đoàn D1 là người trực tiếp xây dựng nhà cho bà N và có đưa tiền cho bà L3 là dì ruột của anh H1 xuống đưa tiền cho anh H1 đề trả tiền công, tiền vật liệu xây dựng vì lúc đó anh H1 là người trông coi việc xây dựng nhà cho bà N. Nguồn tiền bà N xây dựng nhà là tiền do bà N được bồi thường đất ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L3 là mẹ ruột của Lê Đình Q nhưng hiện nay bà L3 đã chết.

Khi bà N làm thủ tục chuyển quyền cho anh T, chị H, chị T1 thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A thì anh H1 cũng đang ở trên đất; đầu năm 2021 anh T, chị H, chị T1 yêu cầu anh H1 trả lại nhà đất nhưng anh H1 không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu anh Lê Kim H1 trả lại diện tích đất 595m² thuộc thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 3970/2022 ngày 18/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L4. Tuy nhiên, do diện tích đất nêu trên đã bị thu hồi nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị được nhận toàn bộ số tiền bồi thường đất, nhà, vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác theo như bảng toán tính giá trị bồi thường là 3.146.092.864 đồng tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

Đối với anh H1 yêu cầu được hưởng 729.930.900 đồng tiền bồi thường đất và 637.423.864 đồng tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc và tài sản khác tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L và 400.000.000 đồng tiền công sức quản lý, giữ gìn, chăm sóc và tôn tạo làm tăng giá trị đất thì phía chị T1 và bà M đại diện cho anh T, chị H không đồng ý.

- Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 29/8/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Kim H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị Tường D đồng thời anh H1, chị D đại diện hợp pháp cho cháu Lê Tuấn A, cháu Lê Đỗ Quỳnh A1, cháu Lê Đỗ Vân A2 ủy quyền cho chị Trần Thị L1 đại diện trình bày:

Bà Lê Thị Năm T2 cho thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L (thửa cũ là thửa 868 tờ bản đồ số 07) cho anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H năm 2019 thì anh Lê Kim H1 không biết. Vào năm 2010, bà N có cho anh H1 01 phần đất tại L với diện tích là ngang 5m, dài hết đất thuộc 01 phần thửa số 868 tờ bản đồ số 07 xã A, huyện L. Bà N có làm giấy tay cho đất vào ngày 10/10/2010, bà N có ký tên vào tờ giấy tặng cho đất. Cuối năm 2010, anh H1 có xây dựng một căn nhà trên đất của bà Lê Thị N cho anh H1. Anh Đỗ Đoàn D1 là người xây dựng nhà cho anh H1, tiền xây dựng nhà là tiền anh H1 mượn của bà L3 và tiền anh H1 tích lũy có được. Phía nguyên đơn cho rằng nhà anh H1 đang ở nhà do bà N xây dựng là không đúng.

Nay anh T, chị H, chị T1 yêu cầu anh Lê Kim H1 phải trả lại diện tích 595m2 thửa số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà trên đất. Đối với mái che, sân xi măng thì anh H1 tự tháo dở và 03 cây mít, 04 cây đu đủ, 03 cây mãng cầu, 03 cây lá cách, 01 cây cóc do anh H1 trồng thì anh H1 tự di dời ra khỏi diện tích đất trên thì anh H1, chị D không đồng ý.

Tại phiên tòa, đại diện anh H1 và anh H1 yêu cầu được hưởng 729.930.900 đồng tiền bồi thường đất và 637.423.864 đồng tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc và tài sản khác tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L; ngoài ra anh H1 yêu cầu công sức quản lý, giữ gìn, chăm sóc và tôn tạo làm tăng giá trị đất là 400.000.000 đồng. Anh H1 không đồng với yêu cầu của nguyên đơn chị T1, chị H và anh T.

- Theo bản tự khai ngày 29/02/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình Q trình bày:

Anh là em họ của anh Lê Kim H1, mẹ anh là em gái ruột của mẹ anh H1, trong hộ khẩu của bà Lê Thị N anh quan hệ với chủ hộ là con nuôi của bà Lê Thị N.

Sự việc liên quan đến vụ tranh chấp đất đai, vào năm 2010 anh Lê Kim H1 có vay mẹ anh là bà Nguyễn Thị Ngọc L3 (chết) với số tiền là 400.000.000 đồng chia làm 03 đợt và đợt cuối cùng là vào năm 2022; số tiền 400.000.000 đồng anh H1 vay với mục đích là xây dựng nhà trên mảnh đất của bà Lê Thị N ở L, đối với bà N có cho đất anh Lê Kim H1 thì anh không nhớ rõ vì lúc đó anh đang tham gia nghĩa vụ quân sự. Lúc anh đi nghĩa vụ về, anh có nghe bà Lê Thị N nói về việc chia đất làm 03 phần: một phần cho anh, một phần cho anh Nguyễn Thanh T, một phần còn lại cho anh Lê Kim H1. Việc này được bà N nhắc đi nhắc lại nhiều lần với anh nên anh nhớ đến bây giờ.

Anh K1 liên quan gì đến vụ án trên nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L cho ông Phùng Anh Đ có đơn xin vắng mặt nên không có ý kiến.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T đối với bị đơn anh Lê Kim H1.

- Công nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng số tiền bồi thường thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L là 2.508.669.000 đồng (hai tỷ năm trăm lẻ tám triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn đồng) tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

- Không chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng tổng số tiền được bồi thường nhà, kiến trúc, cây trồng và tài sản khác với số tiền là 637.423.864 đồng (sáu trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Kim H1 đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T.

- Không chấp nhận yêu cầu anh Lê Kim H1 được hưởng số tiền 729.930.900 đồng (bảy trăm hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi nghìn chín trăm đồng) từ việc bồi thường diện tích 209,5m2 đất (50 đất ONT và 159,5 đất CLN) đối với thửa 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L.

- Công nhận cho anh Lê Kim H1 được hưởng 637.423.864 đồng (sáu trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn tám trăm sáu bốn đồng) tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

- Buộc chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T mỗi người phải thanh toán cho anh Lê Kim H1 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất.

- Không chấp nhận 100.000.000 đồng tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất của anh H1.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 25/12/2024, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và người đại diện theo uỷ quyền của chị H, anh T là bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 06/01/2025, anh Lê Kim H1 kháng cáo đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và công nhận hợp đồng tặng cho giữa ông Lê Kim H1 và bà Lê Thị N ký ngày 10/10/2010.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Tại phiên toà, ông H1 rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu của ông H1.

Nguyên đơn cung cấp tài liệu mới cho Hội đồng xét xử là hợp đồng mua bán điện do công ty điện lực cung cấp và xác nhận tờ giấy mua bán vật liệu xây dựng tại của hàng Sáu Đúng do bị đơn cung cấp là giả mạo, trường hợp cần thiết đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập người xác nhận trong tờ phiếu mua bán vật liệu xây dựng đến để làm rõ.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn là không đảm bảo quy định pháp luật. Tòa án sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai của ông D1 và hàng xóm ông Trần Minh T3 để cho rằng ông H1 là người xây dựng căn nhà là chưa vững chắc. Đơn xin xác nhận tạm trú, thường trú của ông H1 do trưởng ấp xác nhận là không đúng thẩm quyền, mà thẩm quyền là của Công an xã. Đối với hợp đồng tặng cho giữa ông H1 với bà N thì đã bị Tòa án cấp sơ thẩm bác bỏ, ông H1 kháng cáo nội dung trên nhưng đến phiên tòa phúc thẩm thì lại rút kháng cáo, qua đó chứng minh không có sự việc bà N cho đất ông H1.

Ông H1 khai rằng bà N cho đất năm 2010 nhưng đến năm 2012 bà N mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm gì có căn cứ pháp lý để cho ông H1 trước thời điểm được cấp giấy.

Lời khai về việc xây dựng bức tường rào quanh căn nhà bị đơn trả lời bất nhất không thống nhất, không có giá trị chứng minh.

Ông H1 khai rằng là người thực hiện việc ký hợp đồng mua bán điện nước với nhà nước năm 2010 nhưng đối chiếu những tài liệu do chúng tôi cung cấp thì lời khai của ông H1 là sai sự thật.

Tại biên bản hòa giải ngày 6/4/2021 giữa các đương sự, nguyên đơn cũng đề xuất nếu ông H1 ra khỏi nhà đất thì sẽ đền bù 500 triệu đồng cho ông H1 và chính ông H1 cũng thừa nhận nếu nhận được 500 triệu đồng thì sẽ dọn ra khỏi nhà đất. Vậy nếu là nhà, đất của ông H1 thì tại sao ông H1 lại đồng ý dọn ra khỏi nhà, đất của mình.

Tại biên bản kiểm đếm về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền trên đất năm 2024 của UBND xã L mà ông H1 ký xác nhận thể hiện căn nhà xây dựng năm 2011, việc ông H1 khai nhà xây năm 2010 là không thỏa đáng.

Tại biên bản lấy lời khai (bút lục 330) của bà T4: Bà T4 là người ở cùng với bà N xác nhận căn nhà xây dựng năm 2011.

Cửa hàng V thành lập năm 2015, vậy thì giấy xác nhận ông H1 cung cấp mua vật liệu xây dựng năm 2010 là giả mạo, không đúng sự thật khách quan.

Quá trình sinh sống trên phần đất, ông H1 không phải thuê nhà để ở, ông H1 mở tiệm sửa xe là tạo thêm thu nhập cho gia đình ông H1; việc làm hàng rào là để bảo về tài sản của ông H1, không phải để bảo quản đất, làm tăng giá trị đất.

Từ những phân tích trên khẳng định căn nhà, giếng khoan trên đất là của bà Lê Thị N chứ không phải của ông Lê Kim H1. Ông H1 chỉ xây dựng phần mái hiên để phục vụ việc sửa xe và những cây trông trên đất. Phía bị đơn đồng ý hoàn tiền mái hiên và cây trồng trên đất theo giá trị đã xác định cho ông H1.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Trần Thị L1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lê Kim H1 rút toàn bộ nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo ngày 03/01/2025. Xét thấy, việc đương sự rút yêu cầu kháng cáo là tự nguyện do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Xét kháng cáo của nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên toàn bộ số tiền bồi thường nhà đất thuộc về anh T, chị T1, chị H và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn nhận thấy:

Nguồn gốc diện tích đất 595m² thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 (thửa cũ 868, tờ bản đồ số 07) xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do bà Lê Thị N mua lại từ ông Nguyễn Văn K2 vào năm 2001. Việc mua bán đất được thực hiện bằng hình thức viết giấy tay sang nhượng đất và hoa màu (bút lục số 13) với giá mua bản là 90.000.000 đồng. Sau đó, bà N được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 511104 ngày 07/5/2012. Năm 2019 bà Lê Thị Năm T2 cho anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H diện tích đất 595m² thửa số 89, tờ bản đồ số 43 với hình thức là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng công chứng số 04 tỉnh Đồng Nai chứng thực, số công chứng 4359/2019 quyển số 08/2019TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/3/2019, sau đó Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận số CR 070251, CR 070252, CR 070253 ngày 17/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T đứng tên.

Năm 2021 bà N chết. Cùng năm 2021 giữa anh T, chị T1, chị H phát sinh tranh chấp với anh Lê Kim H1. Quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn khởi kiện yêu cầu anh Lê Kim H1 trả lại diện tích đất 595m² thuộc thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 3970/2022 ngày 18/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L4. Tuy nhiên, do diện tích đất nêu trên đã bị thu hồi nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị được nhận toàn bộ số tiền bồi thường 3.146.092.864 theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

Bị đơn anh Lê Kim H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng vào năm 2010 bà Lê Thị N có cho anh H1 01 phần đất tại L với diện tích là ngang 5m dài hết đất thuộc 01 phần thửa số 868, tờ bản đồ số 07 (thửa mới 89, tờ bản đồ số 43) xã A, huyện L; bà N có làm giấy tay cho đất vào ngày 10/10/2010, bà N có ký tên vào tờ giấy tặng cho đất nên anh H1 mới xây căn nhà cấp 4 trên đất. Nay anh H1 có đơn phản tố yêu cầu được hưởng 729.930.900 đồng tiền bồi thường đất và 637.423.864 đồng tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc và tài sản khác theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L; ngoài ra anh H1 yêu cầu công sức quản lý, giữ gìn, chăm sóc và tôn tạo làm tăng giá trị đất là 400.000.000 đồng.

Xét thấy, ngày 28/3/2019 bà N ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T, chị T1 và chị H đối với diện tích 595m2 thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L, Hợp đồng được lập thành văn bản và được công chứng tại Phòng C tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 17/4/2019, anh T, chị T1 và chị H được cấp lần lượt các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 070253, CR 070251 và CR 070252 với tư cách đồng sở hữu. Toàn bộ quá trình lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N và anh T, chị T1, chị H được thực hiện đúng về cả hình thức và nội dung, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Anh H1 cho rằng năm 2010 bà Lê Thị N có làm giấy tay cho đất vào ngày 10/10/2010, bà N có ký tên vào tờ giấy tặng cho đất nên anh H1 mới xây căn nhà cấp 4 trên đất nhưng tại bản Kết luận giám định số 5560/KL-KTHS ngày 23/10/2023 (bút lục số 315) đã kết luận không đủ cơ sở để xác định chữ ký đứng tên Lê Thị N dưới hợp đồng tặng cho đất ngày 10/10/2010 so với những tài liệu khác do bà N ký là cùng hay không cùng một người ký ra. Ngoài giấy tay tặng cho, anh H1 không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh việc bà N có cho anh H1 diện tích đất ngang 5m dài hết đất trong khi phía nguyên đơn không thừa nhận. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, anh T, chị T1 và chị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Đối với căn nhà ở, hàng rào phía trước, cổng, tường rào hai bên, hàng rào phía sau và giếng khoan phía nguyên đơn cho rằng của bà Lê Thị N bỏ tiền ra xây dựng, anh H1 chỉ là người quản lý việc xây dựng; phía bị đơn anh H1 không thừa nhận lời khai của nguyên đơn mà cho rằng khi bà N cho đất anh thì anh là người trực tiếp bỏ tiền ra xây dựng nhà và các công trình trên đất từ năm 2010. Xét thấy, lời khai của chị T1, anh T và chị H không được anh H1 thừa nhận; chị T1, anh T và chị H không đưa ra chứng cứ gì chứng minh nguồn tiền xây dựng nhà là của bà N trong khi phía nguyên đơn cũng thừa nhận anh H1 là người thay mặt bà N đứng ra xây dựng và thanh toàn tiền xây dựng đồng thời các bên đều xác định ông Đỗ Đoàn D1 là người trực tiếp xây nhà và các công trình trên đất, ông D1 xác định không biết bà N là ai, không nhận tiền xây dựng từ bà N mà anh H1 mới là người trực tiếp thanh toán tiền cho ông. Bên cạnh đó, anh Trần Minh T3 là người hàng xóm của anh H1 khai, khi anh H1 xây dựng nhà và công trình vào năm 2010, anh T3 thấy anh H1 là người trực tiếp thanh toán tiền vật tư và công xây dựng công trình; do đó lời khai của anh H1 về vấn đề anh H1 chính là người bỏ tiền ra xây dựng là có căn cứ. Đối với mái hiên và cây trồng thì chị T1, anh T và chị H thừa nhận là của anh H1 là đúng nên không phải chứng minh.

Phía nguyên đơn cũng cho rằng bà Lê Thị N là người bỏ tiền ra xây nhà sau đó bà N cho anh H1 vào ở nhờ, đến năm 2019 phía nguyên đơn có yêu cầu anh H1 di dời đi nơi khác để trả nhà đất cho nguyên đơn và anh H1 cũng nói cho anh H1 thêm thời gian để dọn đi nơi khác nhưng vấn đề này anh H1 không thừa nhận, nguyên đơn cũng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn cung cấp Hợp đồng mua bán điện số 12/000147 ngày 12/01/2012 giữa bà N và Công ty TNHH MTV Đ1, tuy nhiên xét thấy tài liệu này không chứng minh được nguồn tiền xây nhà là của bà N mà chỉ thể hiện bà N là người ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt.

Như vậy, mặc dù đất thuộc quyền sử dụng của anh T, chị T1 và chị H tuy nhiên anh H1 là người ở trên đất, đã xây dựng tường rào bảo vệ đất từ năm 2010 đến nay nên xác định anh H1 là người có công sức trong việc quản lý, giữ gìn và chăm sóc làm tăng giá trị đất. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Thành chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T đối với bị đơn anh Lê Kim H1, công nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng số tiền bồi thường thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L là 2.508.669.000 đồng theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Kim H1 đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T, công nhận cho anh Lê Kim H1 được hưởng 637.423.864 đồng tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L đồng thời buộc chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T mỗi người phải thanh toán cho anh Lê Kim H1 100.000.000 đồng tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất là có căn cứ.

Kháng cáo của phía nguyên đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên toàn bộ số tiền bồi thường nhà đất thuộc về anh T, chị T1, chị H và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Lê Kim H1.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh H.

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1; người đại diện theo uỷ quyền của nguyễn đơn chị H, anh T là bà Nguyễn Thị M và bị đơn ông Lê Kim H1 làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa, chị Trần Thị L1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lê Kim H1 rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án đã được Cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

Về nội dung vụ án, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Nguồn gốc đất tranh chấp có diện tích đất 595m² thuộc thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 (thửa cũ 868, tờ bản đồ số 07) xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do bà Lê Thị N mua lại từ ông Nguyễn Văn K2 vào năm 2001 bằng giấy viết tay, với giá 90.000.000 đồng. Năm 2012, bà Lê Thị N được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 511104 ngày 07/5/2012. Năm 2019, bà Lê Thị Năm T2 cho anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H diện tích 595m2 thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai với hình thức là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được phòng công chứng số 04 tỉnh Đồng Nai chứng thực, số công chứng: 4359/2019 quyển số 08/2019TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/3/2019. Ngày 17/4/2019, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận số CR 070251, CR 070252, CR 070253 cho chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T đứng tên cùng sử dụng. Toàn bộ quá trình lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều được thực hiện đúng về nội dung và hình thức theo quy định pháp luật. Do đó, có đủ cơ sở xác định anh T, chị T1, chị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 tại xã A, huyện L.

Bị đơn anh Lê Kim H1 cho rằng vào năm 2010 bà Lê Thị N có cho anh H1 01 phần đất tại L với diện tích là ngang 5m dài hết đất thuộc 01 phần thửa số 868 tờ bản đồ số 07 (thửa mới là 89 tờ bản đồ số 43) xã A, huyện L. Bà N có làm giấy tay cho đất vào ngày 10/10/2010. Sau khi được tặng cho anh đã tiến hành xây dựng một căn nhà cấp 4 trên đất để ở và sinh sống từ đó cho đến khi xảy tra tranh chấp. Hợp đồng tặng cho ngày 10/10/2010 bà Lê Thị N với anh Lê Kim H1 đã được Tòa án trưng cầu giám định tại Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Bản kết luận số 5560/KL-KTHS ngày 23/10/2023 đã kết luận: không đủ cơ sở xác định chữ ký đứng tên bà Lê Thị N dưới hợp đồng tặng cho ngày 10/10/2010 so với những tài liệu khác thật sự do bà N ký là cùng hay không cùng một người ký ra. Ngoài giấy tặng cho này anh H1 không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh nào khác.

Đối với căn nhà ở, hàng rào phía trước, cổng, tường rào hai bên, hàng rào phía sau và giếng khoan, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1, anh Nguyễn Thanh T và chị Nguyễn Thị Thanh H cho rằng của bà Lê Thị N. Bà Lê Thị N là người trực tiếp đưa tiền cho anh H1 để anh H1 thanh toán tiền vật tư và tiền công xây dựng; anh H1 chỉ là người quản lý việc xây dựng công trình cho bà Lê Thị N nhưng ngoài lời trình bày thì nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh nguồn tiền xây dựng là của bà N, trong khi phía nguyên đơn cũng thừa nhận anh H1 là người thay mặt bà N đứng ra xây dựng và thanh toàn tiền vật tư xây dựng, đồng thời các bên đều xác định ông Đỗ Đoàn D1 là người trực tiếp xây nhà và các công trình trên đất. Ông D1 xác định không biết bà N là ai, không nhận tiền xây dựng từ bà N mà anh H1 mới là người trực tiếp thanh toán tiền cho ông. Bên cạnh đó, anh Trần Minh T3 là người hàng xóm của anh H1 khai: khi anh H1 xây dựng nhà và công trình vào năm 2010, anh T3 thấy anh H1 là người trực tiếp thanh toán tiền vật tư và công xây dựng công trình. Do đó, lời khai của anh H1 về việc anh là người bỏ tiền ra xây dựng là có căn cứ.

Đối với mái hiên và cây trồng thì chị T1, anh T và chị H thừa nhận là của anh H1 là đúng nên không phải chứng minh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn cung cấp bản phô tô Hợp đồng mua bán điện số 12/000147 ngày 12/01/2012 giữa bà N và Công ty TNHH MTV Đ1, tuy nhiên xét thấy tài liệu này không chứng minh được nguồn tiền xây nhà là của bà N mà chỉ thể hiện bà N là người ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt.

Anh Lê Kim H1 là người ở trên đất, đã xây dựng các công trình, tường rào bảo vệ đất đất từ năm 2010 đến nay nên anh H1 là người có công sức trong việc quản lý, giữ gìn và chăm sóc làm tăng giá trị đất. Do đó, cấp sơ thẩm buộc chị Lê Thị Thanh T5, chị Lê Thị Thanh H2 và anh Lê Thanh T6 mỗi người phải thanh toán cho anh Lê Kim H1 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng số tiền bồi thường thửa đất số 89, tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L là 2.508.669.000 đồng theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L; Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Kim H1, công nhận cho anh Lê Kim H1 được hưởng 637.423.864 đồng tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác theo Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L đồng thời buộc chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T mỗi người phải thanh toán cho anh Lê Kim H1 100.000.000 đồng tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.

Về chi phí tố tụng:

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và thu thập chứng cứ:

Chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và thu thập chứng cứ là 22.339.767 đồng. Chị T1, chị H và anh T đã nộp xong.

Anh Lê Kim H1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và thu thập chứng cứ là 22.339.767 đồng; Anh H1 đã nộp 1.409.517 đồng, số tiền còn lại 20.930.250 đồng chị T1, chị H, anh T đã tạm nộp cho nên buộc anh H1 phải hoàn trả lại chị H, anh T, chị T1 số tiền là 20.930.250 đồng.

- Về chí phí giám định: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T phải chịu là 3.000.000 đồng. Chị T1, chị H và anh T đã nộp xong.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Ý kiến của Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn rút kháng cáo tại phiên toà, do đó bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh H.

Đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Lê Kim H1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai).

2. Áp dụng Điều 158, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T đối với bị đơn anh Lê Kim H1.

- Công nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng số tiền bồi thường thửa đất số 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L là 2.508.669.000 đồng (hai tỷ năm trăm lẻ tám triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn đồng) tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

- Không chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T được hưởng tổng số tiền được bồi thường nhà, kiến trúc, cây trồng và tài sản khác với số tiền là 637.423.864 đồng (sáu trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Kim H1 đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và anh Nguyễn Thanh T.

- Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Kim H1 được hưởng số tiền 729.930.900 đồng (bảy trăm hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi nghìn chín trăm đồng) từ việc bồi thường diện tích 209,5m2 đất (50 đất ONT và 159,5 đất CLN) đối với thửa 89 tờ bản đồ số 43 xã A, huyện L.

- Công nhận cho anh Lê Kim H1 được hưởng 637.423.864 đồng (sáu trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn tám trăm sáu bốn đồng) tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác tại Bảng tính toán giá trị bồi thường ngày 13/9/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện L.

- Buộc chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T mỗi người phải thanh toán cho anh Lê Kim H1 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất.

- Không chấp nhận 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền công sức quản lý, giữ gìn và tăng giá trị đất của anh H1.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.122.716 đồng (bốn mươi triệu một trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm mười sáu đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005130 ngày 09/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T1, chị H và anh T còn phải nộp 37.622.716 đồng (ba mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm mười sáu đồng), cụ thể: Chị T1, chị H và anh T mỗi người phải nộp 12.541.000 đồng (mười hai triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

- Bị đơn anh Lê Kim H1 phải chịu 98.771.998 đồng (chín mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm chín tám đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 8.187.000 đồng (tám triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai 0016239 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Anh H1 còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 90.584.998 đồng (chín mươi triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm chín tám đồng).

5. Về chí phí tố tụng :

- Chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và thu thập chứng cứ là 22.339.767 đồng (hai mươi hai triệu ba trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm sáu bảy đồng). Chị T1, chị H và anh T đã nộp xong.

- Anh Lê Kim H1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và thu thập chứng cứ là 22.339.767 đồng (hai mươi hai triệu ba trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm sáu bảy đồng). Anh H1 đã nộp 1.409.517 đồng (một triệu bốn tẳm lẻ chín nghìn năm trăm mười bảy đồng). Chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T đã tạm nộp số tiền 20.930.250 đồng nên buộc anh H1 phải hoàn trả lại cho chị H, anh T, chị T1 số tiền là 20.930.250 đồng (hai mươi triệu chín trăm ba mươi nghìn hai trăm năm mươi đồng).

- Chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Thanh T phải chịu là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chí phí giám định. Chị T1, chị H và anh T đã nộp xong.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1, anh Nguyễn Thanh T, chị Nguyễn Thị Thanh H, mỗi người phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đa nộp theo các Biên lai số 0014550 ngày 09/01/2025, Biên lai số 0014551 ngày 09/01/2025, Biên lai số 0014552 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Đồng Nai).

Bị đơn anh Lê Kim H1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh H1 đã nộp tại Biên lai số 0014578 ngày 16/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Đồng Nai).

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ