vanban.org

Bản án 288/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lý Văn C được ly hôn với chị Nông Thị Ng. Về con chung: Giao cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nông Thị Ng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Văn C - Nông Thị Ng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 9 - 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Vân Anh

2. Ông Bàn Đức Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2023/TLST-HNGĐ, ngày 11/7/2023 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lý Văn C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Chị Nông Thị Ng, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Nguyên đơn anh Lý Văn C có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nông Thị Ng vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Lý Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nông Thị Ng kết hôn từ năm 2018. Trước khi kết hôn hai bên được tự tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 27/6/2018. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, bất đồng trong làm ăn, phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, mắng chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên can nhưng hai bên vẫn không hóa giải được mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng thêm nên chị Ng đã bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà và sống ly thân với anh từ đầu năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị Nông Thị Ng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục duy trì đời sống chung cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc tiến bộ, nuôi dạy con cái trưởng thành và phát triển kinh tế gia đình được nữa. Do đó anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nông Thị Ng để giải phóng cho hai người đi tìm cuộc sống mới hạnh phúc của riêng mình.

Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Nông Thị Ng có 01 con chung là cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018. Kể từ khi vợ chồng ly thân thì cháu Lý Thị Ngọc H vẫn sống cùng anh và bà nội nên khi ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu chị Ng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu Lý Thị Ngọc H.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống anh và chị Nông Thị Ng sống cùng nhà với mẹ đẻ anh là bà Hoàng Thị T nên chưa tạo lập được tài sản, đất đai gì chung cũng như không có vay nợ chung, do đó anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn chị Nông Thị Ng không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lý Văn C.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và người thân thích của chị Nông Thị Ng, nội dung thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng kết hôn với nhau từ năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới vợ chồng anh Chủ, chị Ngọc về chung sống cùng nhà với mẹ đẻ anh C là bà Hoàng Thị T tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2022 thì chị Ng tự ý bỏ đi làm ăn ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới về nhà, không quan tâm đến chồng con. Anh C và hai bên gia đình đã động viên, khuyên nhủ nhiều lần để chị Ng quay về đoàn tụ, cùng anh C nuôi dạy con cái nhưng chị Ng không về. Mặc dù trên danh nghĩa là vợ chồng nhưng thực tế thì anh C và chị Ng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Do đó, chính quyền địa phương và gia đình nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng đã đến mức độ trầm trọng không thể hàn gắn do đó đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lý Văn C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh Lý Văn C, chị Nông Thị Ng có 01 con chung là cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018. Kể từ khi chị Ngọc bỏ đi làm ăn xa thì cháu Hân vẫn sống cùng anh Lý Văn C và mẹ đẻ anh Chủ là bà Hoàng Thị T tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Vợ chồng anh Lý Văn C, chị Nông Thị Ng không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.

Về hộ khẩu thường trú: Kể từ kết hôn vợ chồng anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó chị Ng bỏ đi miền Nam làm ăn còn anh Lý Văn C vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương. Chị Ng đi làm ăn xa, chỉ thỉnh thoảng mới về nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình bằng điện thoại, địa phương và gia đình có hỏi thì chị Ng chỉ nói là đang đi làm ăn tại các tỉnh miền Nam nhưng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng nên hiện tại chị Ng đang làm công việc gì, ở địa chỉ cụ thể như thế nào thì gia đình và địa phương không nắm được. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chính quyền địa phương đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sau đó chuyển lại cho người thân trong gia đình, gia đình cũng đã thông báo lại cho chị Ng biết về việc anh Lý Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Ng và Tòa án triệu tập chị Ng đến làm việc, tuy nhiên chị Ng báo lại là đang bận đi làm ăn xa nên không về để đến Tòa án làm việc được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 26, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Lý Văn C thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Nông Thị Ng chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lý Văn C được ly hôn với chị Nông Thị Ng.

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nông Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Nguyên đơn anh Lý Văn C xác định không có tài sản, đất đai vay nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn chị Nông Thị Ng không phải nộp tiền án phí.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:

Anh Lý Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nông Thị Ng, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nông Thị Ng có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại gia đình và địa phương cho thấy bị đơn chị Nông Thị Ng có hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn anh Lý Văn C đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn chị Nông Thị Ng. Chị Ng đi làm ăn xa nhưng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng cho chính quyền địa phương biết, thỉnh thoảng vẫn về nhà và thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không thông báo địa chỉ mới nên gia đình và địa phương không rõ chị Ng hiện đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể nào. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định của pháp luật, mặc dù chị Ng đã biết được việc anh C khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng chị Ng không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ chị Ng đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, cố tình vắng mặt nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn anh Lý Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lý Văn C thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chị Nông Thị Ng chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng kết hôn với nhau từ năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối phải kết hôn và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, sau đó đến năm 2022 thì chị Ng tự ý bỏ đi làm ăn xa không về nhà. Mặc dù đã được anh C và hai bên gia đình khuyên nhủ nhưng chị Ng vẫn không quay về đoàn tụ với anh C để nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế gia đình và vẫn tiếp tục đi làm ăn xa, không quan tâm đến gia đình, chồng con. Như vậy, chị Ng đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Anh C xác định quan hệ vợ chồng trên thực tế với chị Ng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nông Thị Ng để đi tìm cuộc sống mới. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Lý Văn C được ly hôn với chị Nông Thị Ng là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về con chung: Quá trình chung sống anh Lý Văn C và chị Nông Thị Ng có 01 con chung là cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018. Kể từ khi chị Ng bỏ đi làm ăn xa thì cháu Lý Thị Ngọc H vẫn sống cùng với anh Lý Văn C. Quá trình giải quyết vụ án và trong Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, anh Lý Văn C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thị Ngọc H đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Nông Thị Ng phải cấp dưỡng đối với cháu H. Ngoài ra, hiện tại chị Nông Thị Ng cũng thường xuyên vắng nhà, đi làm ăn xa, không có địa chỉ liên lạc cụ thể. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là cháu Lý Thị Ngọc H cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nông Thị Ng không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng anh Lý Văn C, chị Nông Thị Ng không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lý Văn C cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Nguyên đơn anh Lý Văn C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn chị Nông Thị Ng không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lý Văn C được ly hôn với chị Nông Thị Ng.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Thị Ngọc H, sinh ngày 23/10/2018 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nông Thị Ng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Văn C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006659, ngày 11/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ghi nhận anh Lý Văn C đã nộp đủ tiền án phí.

Bị đơn chị Nông Thị Ng không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Lý Văn C và bị đơn chị Nông Thị Ng được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ