vanban.org

Bản án 287/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/10/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Trương Thị C, Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T.

Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về án phí. hông chấp nhận toàn bộ y u cầu của bà Nguy n Thị im H (Trương Thị C, Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T) về việc y u cầu Trần Thị Thanh T và Trần Thị Minh T1 trả l i 80.000.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Trương Thị C, Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố t ng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 287/2018/DS-PT
Ngày: 30-10-2018
V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng

Các Thẩm phán:

Ông Nguy n Tấn Tặng

Ông Sỹ Danh Đ t

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- i di n Vi n Ki m sát nh n d n t nh ồng Tháp: Bà Ph m Thị Thanh Hương - i m sát vi n.

Trong các ngày 20/8/2018, 30/10/2018 t i tr s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 143/2017/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2017/DS-ST ngày 26/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện V bị kháng cáo.

Theo uyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 197/2018/ Đ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguy n Thị im H, sinh năm 1964 (chết); địa ch : ấp A, xã B, huyện V, t nh Đồng Tháp.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huê:

Bà Trương Thị C, sinh năm 1926 (mẹ ruột bà H); địa ch : Ấp A, xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguy n Thị im P, sinh năm 1978; địa ch : Ấp A, xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 17/7/2018). Có mặt

Chị Nguy n Thị Thúy A, sinh năm 1988; địa ch : Ấp A, xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Anh Nguy n Hoàng T, sinh năm 1995; địa ch : Ấp A, xã B, huyện V, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn:

2.1. Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1979; địa ch : ấp H , xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp. (vắng mặt)

2.2. Chị Trần Thị Minh T1, sinh năm 1984; địa ch : ấp H, xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp.(vắng mặt)

3. Người kháng cáo: Những người kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng của bà H (bà C, chị A, anh T tiếp t c việc kháng cáo của bà H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Vào ngày 01/12/2011, chị T có vay của bà H 40.000.000đ đ mua xe AIRBLADE, không tính lãi và không có làm bi n nhận (vay lần thứ nhất). Vào ngày 03/3/2012, chị T tiếp t c vay của bà H 40.000.000đ đ bù vào tiền quỹ nhà trường, hẹn 05 tháng sau sẽ trả, lãi 5%/tháng (vay lần thứ hai).

Cả hai lần vay tiền đều có chị T1 chứng kiến và bảo lãnh nếu chị T không trả thì chị T1 sẽ trả thay cho chị T, nhưng chị T1 ch nói miệng không có làm giấy tờ gì. Tổng cộng cả hai lần chị T mượn của bà H là 80.000.000đ, cả hai lần mượn tiền đều không làm bi n nhận hay giấy tờ gì khác. hi đến h n trả tiền, bà H có tìm chị T và chị T1 đòi tiền nhiều lần nhưng không được. Nay bà H y u cầu Tòa án buộc chị T và chị T1 cùng có nghĩa v trả l i cho bà H số tiền 80.000.000đ, không y u cầu tính lãi.

- Chị Trần Thị Thanh T và chị Trần Thị Minh T1 cùng trình bày: Trước đây vào năm 2009 chị T1 làm khu công nghiệp V, bà H xin gia đình chị T1 cho chị T1 làm con nuôi bà H, khi chị T1 về chung nhà bà H có những hành động, không đàng hoàng với chị T1, chị T1 đem chuyện nói l i với chị T, chị T k u chị T1 không nhà bà H nữa mà về có chồng, khi chị T1 đám hỏi thì bà H có đến khuy n là người chồng của chị T1 không được tốt không cho chị T1 lấy chồng, hai bên mâu thuẫn bà H đánh chị T1 và Công an xã B xử lý và bà H có bồi thường tiền thuốc cho chị T1. Việc bà H cho rằng chị T mượn 40.000.000đ ngày 01/12/2011 về đ mua xe AIRBLADE là không có vì chị T đã mua xe AIRBLADE vào năm 2009, th m vào đó giữa bà H và gia đình chị T đã xảy ra việc đánh nhau vào năm 2009 thì làm sao chị T l i đi mượn tiền bà H được nữa và bà H càng không th cho mượn được. Chị T không thừa nhận có vay tiền của bà H như lời bà H trình bày và không đồng ý trả theo y u cầu của bà H. Chị T1 không thừa nhận có bảo lãnh cho chị T vay tiền của bà H, việc bà H trình bày chị T1 không biết gì n n chị T1 không đồng ý theo y u cầu của bà H.

Bà H có đưa người làm chứng là bà Diệp Thị Trang Đ, Nguy n Thị im P và Nguy n Thị G.

- Bà Diệp Thị Trang Đ trình bày: Bà Đ nhà tr gần nhà bà H n n bà Đ thường qua nhà bà H chơi, có một lần khoảng 5 giờ chiều bà Đ không nhớ rõ ngày tháng năm nào, bà Đ thấy chị T có đến nhà bà H và bà H có đưa tiền cho chị T, lo i tiền giấy 500.000đ, khi chị T về bà Đ có hỏi bà H tiền gì, bà H có nói là cho chị T mượn tiền nhưng mượn bao nhi u thì bà Đ không biết. Lần sau cũng lúc chiều, bà Đ cũng không nhớ rõ ngày tháng năm bà Đ thấy chị T đến nhà bà H và bà H đưa tiền cho chị T tiền lo i giấy 100.000đ bà Đ có thấy chị T viết giấy gì bà Đ không biết rồi bà Đ bỏ về.

- Bà Nguyễn Thị Kim P trình bày: Trước kia bà P làm công ty may thường ngày đi làm về ghé quán bà H uống nước, ngh mệt, có một lần vào khoảng 5 giờ chiều gần tết năm 2011, bà P có thấy bà H đưa tiền cho chị T lo i giấy tiền 500.000 đồng, bà P nghe nói bà H cho chị T mượn tiền mua xe. Lần sau khoảng 6 giờ chiều tháng 3/2012, bà P thấy chị T đến nhà bà H và bà H có đưa cho chị T tiền giấy 100.000 đồng chị T nói bù vào tiền quỹ nhà trường, hứa trả lãi 5%/tháng ngoài ra P không biết gì th m.

- Bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà G là chị ruột của bà H chung nhà với bà H, vào ngày 01/12/2011 chị T có đến nhà bà G đ mượn tiền của bà H là 40.000.000đ nói là mượn mua xe, bà H đưa tiền cho chị T tiền lo i giấy 500.000đ. Lần thứ hai ngày 03/3/2012, chị T tiếp t c đến nhà mượn tiền của bà H 40.000.000đ, bà H đưa tiền cho chị T lo i giấy tiền 100.000đ, chị T nói mượn tiền về lấp vào quỹ nhà trường nếu không sẽ bị kỷ luật, bà H đưa tiền cho chị T không có làm bi n nhận.

- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:

hông chấp nhận toàn bộ y u cầu của bà Nguy n Thị im H về việc y u cầu Trần Thị Thanh T và Trần Thị Minh T1 trả l i 80.000.000đ.

Về án phí: Nguy n Thị im H phải có nghĩa v nộp 4.000.000đ án phí sơ thẩm dân sự, tiền án phí của bà H được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp là 2.000.000đ ngày 19/12/2016 theo bi n lai số 08902 của Chi c c thi hành án dân sự huyện V, bà H còn phải nộp th m 2.000.000đ.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa v của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm bà Nguy n Thị im H kháng y u cầu Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện V.

- T i phi n tòa phúc thẩm:

+ Nguy n đơn là những người kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng của bà H giữ nguy n y u cầu kh i kiện, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau đ giải quyết tranh chấp và cung cấp nhân chứng Diệp Thị Trang Đ, Nguy n Thành A, Nguy n Thị G.

+ Bị đơn: Trần Thị Thanh T, Trần Thị Minh T1 đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt n n xét xử vắng mặt chị T, chị T1 theo quy định của pháp luật.

+ Đ i diện Viện ki m sát nhân dân T nh ý kiến về giải quyết v án:

Về tố t ng: Thẩm phán th lý v án, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự trong thời gian chuẩn bị xét xử và t i phi n tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố t ng dân sự.

Về nội dung: Ngày 07/8/2017 bà Nguy n Thị im H kháng cáo y u cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của TAND huyện V.

Căn cứ vào các chứng cứ cũng như lời trình bày của các đương sự cho thấy việc bà H cho rằng đã cho chị T mượn tiền hai lần với số tiền 80.000.000đ, lần thứ 1 vào ngày 01/12/2011 và lần thứ hai ngày 03/3/2012 là không có cơ s đ chấp nhận, b i lẽ bà H không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho việc cho mượn tiền, đồng thời về phía chị T và chị T1 cũng không thừa nhận có mượn.

Hơn nữa t i phi n tòa sơ thẩm bà H cũng như chị T, chị T1 trình bày năm 2009-2010 giữa bà H (chị T1 làm con nuôi bà H) và chị T có cãi nhau đánh nhau, nguy n nhân là do chị T mượn tiền bà H không trả n n sau đó chị T1 không còn nhà bà H nữa, nhưng bà H trình bày t i đơn kh i kiện là vào năm 2011, 2012 đã cho chị T mượn tiền là chưa phù hợp với lời trình bày trên vì trước năm 2009-2010 bà H đã cho bà T mượn tiền n n mới xảy ra tranh cãi.

T i phi n tòa phúc thẩm, chị P đ i diện cho người thừa kế của bà H xác định thời gian mượn tiền là 2009 và 2010 nhưng chị P không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình n n không có cơ s xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của bà Nguy n Thị im H giữ nguy n bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện V.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phi n tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm thì bà Nguy n Thị im H đã chết, nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H gồm: Bà Trương Thị C (mẹ bà H), Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T (con nuôi của bà H) tham gia tố t ng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng của bà H, đồng thời bà C ủy quyền cho bà Nguy n Thị im P tham gia tố t ng; chị Nguy n Thị Thúy A, anh Nguy n Hoàng T có đơn xin xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật. Bà Trần Thị Thanh T, bà Trần Thị Minh T1 vắng mặt t i phi n tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nhưng không có lý do n n xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp pháp luật.

Bà P trình bày, những người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của bà H tiếp t c kháng cáo y u cầu bà T, bà T1 phải trả số tiền 80.000.000đ đã mượn của bà H trước đây là không có cơ s , b i vì:

Theo đơn kh i kiện của bà H trình bày, trước đây bà có cho bà T và bà T1 vay 02 lần tiền, lần thứ nhất vào ngày 01/12/2011 là 40.000.000đ, lần thứ hai vào 03/3/2012 là 40.000.000đ, thời h n vay là 05 tháng, lãi suất là 3%/tháng, vay không có làm bi n nhận, nhưng t i phi n tòa sơ thẩm ngày 26/7/2017 thì bà H cho rằng lúc bà T mượn tiền thì có bà T1 chứng kiến (bà T1 sống chung với bà) n n bà T1 đứng ra bảo lãnh và cũng không có chứng cứ chứng minh việc bảo lãnh của bà T1. Nay bà T, bà T1 không thừa nhận việc mượn tiền và cũng không có việc bảo lãnh mượn tiền của bà H.

T i phi n tòa sơ thẩm bà T, bà T1 cho rằng do bà H muốn nhận bà T1 làm con nuôi nên bà T1 có nhà của bà H vào khoảng cuối năm 2009 đến giữa năm 2010 thì không còn sống chung với nhau nữa, đồng thời giữa bà T với bà H xảy ra đánh nhau khoảng năm 2009- 2010 đã bị công an xã buộc bà H bồi thường 1.500.000đ, n n không có việc bảo lãnh cho bà T mượn tiền vào năm 2011. Bà H thừa nhận có việc đánh nhau giữa bà với bà T1 như lời trình bày của bà T. Bà H cho rằng, do bà T không trả tiền cho bà n n giữa bà với bà T1 cãi nhau mới dẫn đến đánh nhau.

Nhân chứng trình bày:

Bà Nguy n Thị Kim P khai (với tư cách nhân chứng cấp sơ thẩm), bà không có quan hệ gì với bà H, trước đây bà có làm công ty may và khi đi làm về thường ghé nhà của bà H đ uống nước, ngh ngơi và có chứng kiến việc bà T mượn tiền của bà H, c th lần thứ nhất vào khoảng 17 giờ chiều gần tết năm 2011 âm lịch thấy bà H đưa tiền cho bà T, bà T1 số tiền giấy b c 500.000đ và bà có nghe bà H nói l i là bà T mượn tiền đ mua xe AIRBLADE. Lần sau khoảng 18 giờ tháng 3/2012, thấy bà H đưa cho bà T tiền giấy 100.000đ, nghe bà T nói mượn đ bù vào tiền quỹ của trường, bà T đồng ý trả lãi 5 phân lãi/tháng. T i phi n tòa phúc thẩm thì bà P khai (tư cách là đ i diện theo ủy quyền của bà C), bà là cháu của bà H, nên có lúc bà ghé nhà bà H ăn cơm hoặc có khi trời mưa thì ngủ nhờ nhà bà H.

Bà Diệp Thị Trang Đ khai, bà thường qua nhà của bà H chơi, có thấy bà T đến nhà bà H mượn tiền, lần thứ nhất khoảng 17 giờ (không nhớ ngày) thấy bà H đưa tiền cho bà T giấy b c 500.000đ, sau đó có nghe bà H nói là cho bà T mựơn tiền, lần thứ hai vào khoảng 05 giờ chiều (gần tết) thấy bà H đưa tiền cho bà T lo i giấy b c 100.000đ và bà thấy bà T viết giấy gì đó thì bà không biết. T i phiên tòa phúc thẩm, bà Đ khai có trực tiếp nghe T hỏi mượn tiền bà H đ mua xe, thời h n 06 tháng trả.

Bà G trình bày (chị ruột của bà H), bà có nghe bà H nói việc bà T, bà T1 mượn hai lần là 80.000.000đ (vì sống chung nhà), thời h n trả là 06 tháng.

Qua trình bày của các nhân chứng cho thấy, lời khai của nhân chứng t i Tòa án cấp phúc thẩm có một số nội dung thay đổi so với lời khai t i Tòa án cấp sơ thẩm, giữa các nhân chứng khai không khớp nhau và cũng không khớp với trình bày của bà H. Như vậy, đơn kh i kiện của bà H cũng như trong quá trình giải quyết v án thì bà H, các nhân chứng đều xác định là tiền cho mượn vào tháng 12/2011, tháng 3/2012, thời đi m này thì bà H với bà T, bà T1 đã có mâu thuẫn nhau, nhưng cho rằng do tin tư ng không làm bi n nhận nhận tiền là không phù hợp thực tế, đồng thời ban đầu thì khai cho bà T, bà T1 mượn, sau đó khai bà T1 là người bảo lãnh cho bà T mượn tiền. Bà H cũng xác nhận là đơn vị công tác của bà T trả lời không có căn đ y u cầu bà T trả tiền cho bà H.

Đ i diện Viện ki m sát T nh ý kiến về giải quyết v án: Từ khi th lý v án đến xét xử t i phi n tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố t ng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguy n quyết định của án sơ thẩm là có cơ s .

Về án phí: Bà C được mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ (do người cao tuổi), chị A, anh Hoàng T mỗi người phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ. Bà C, chị A, anh Hoàng T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Án sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật n n, không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà C, chị A, anh Hoàng T. Tuy nhi n sửa án sơ thẩm về phần án phí.

Các phần còn l i của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 3 Điều 26, Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015; đi m đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v uốc hội.

1. Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Trương Thị C, Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T.

Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về án phí.

hông chấp nhận toàn bộ y u cầu của bà Nguy n Thị im H (Trương Thị C, Nguy n Thị Thúy A, Nguy n Hoàng T) về việc y u cầu Trần Thị Thanh T và Trần Thị Minh T1 trả l i 80.000.000đ.

2. Về án phí: Bà Ch được mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ, chị Nguy n Thị Thúy A, anh Nguy n Hoàng T mỗi người phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.333.000đ. Tiền t m ứng án phí của bà H đã nộp là 2.000.000đ theo bi n lai số 08902 ngày 19/12/2016 và tiền t m ứng án phí 300.000đ (do bà H nộp) theo bi n lai thu số 16587 ngày 08/8/2017 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện V, sẽ được khấu trừ vào tiền án phí dân sự sơ thẩm của chị A, anh T (mỗi người được khấu trừ 1.150.000đ). Vậy chị A, anh T mỗi người còn phải nộp 183.000đ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ