vanban.org

Bản án 286/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Châu Đ.

Về hôn nhân: Xử cho bà Thị Châu Đ ly hôn với ông Hà Minh T. Về con chung: Giao cháu Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013 và Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015 cho bà Thị Châu Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Châu Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2025.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Quí.

2. Ông Nguyễn Vân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 182/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thị Châu Đ - sinh ngày 15/6/1996, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ cũ: ấp Thới Đông, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Nay là ấp Thới Đông, xã Định Hòa, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Hà Minh T - sinh ngày 01/01/1988, vắng mặt.

Địa chỉ cũ: ấp Thới Đông, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Nay là ấp Thới Đông, xã Định Hòa, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Thị Châu Đ như sau:

Bà và ông Hà Minh T sống chung từ năm 2012 nhưng không tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 11/8/2018.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc từ năm 2012 đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng bà thường xuyên nhậu nhẹt, quậy quạng, không quan tâm vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Vợ chồng bà đã ly thân từ tết năm 2025 đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Hà Minh T nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hà Minh T.

Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 02 người con chung tên Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013, Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Hà Minh T.

Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013, Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015 và không yêu cầu ông Hà Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hà Minh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Hà Minh T không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Hà Minh T.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Thị Châu Đ được ly hôn với ông Hà Minh T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013, Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015 cho bà Thị Châu Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Thị Châu Đ và ông Hà Minh T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Ông Hà Minh T là bị đơn trong vụ án, ông Hà Minh T có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Hà Minh T vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Hà Minh T vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hà Minh T.

Bà Thị Châu Đ có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Thị Châu Đ không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Thị Châu Đ.

Về hôn nhân: Bà Thị Châu Đ và ông Hà Minh T sống chung từ năm 2012 nhưng không tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 179/2018, ngày 11/8/2018, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Thị Châu Đ và ông Hà Minh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Thị Châu Đ và ông Hà Minh T là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc khoảng 07 năm và có 02 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Thị Châu Đ cho rằng ông Hà Minh T thường xuyên nhậu nhẹt, quậy quạng, không quan tâm vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Vợ chồng bà đã ly thân từ tết năm 2025 đến nay. Ngày 01/8/2025 và ngày 20/8/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Hà Minh T vắng mặt và bà Thị Châu Đ cương quyết ly hôn với ông Hà Minh T. Xét thấy, trong thời gian ly thân bà và ông Hà Minh T không còn liên lạc với nhau, khi Tòa án mời ông Hà Minh T đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Hà Minh T không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Thị Châu Đ cương quyết xin ly hôn với ông Hà Minh T và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Hà Minh T, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thị Châu Đ.

Về con chung: Bà Thị Châu Đ và ông Hà Minh T có 02 người con chung tên Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013, Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015, hiện nay bà Thị Châu Đ đang nuôi dưỡng.

Ông Hà Minh T không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Thị Châu Đ xin nuôi con chung tên Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013, Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015 và cháu K, cháu H cùng có nguyện vọng sống chung với mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Thị Châu Đ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị Châu Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thị Châu Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Thị Châu Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014945, ngày 13/5/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Châu Đ.

Về hôn nhân: Xử cho bà Thị Châu Đ ly hôn với ông Hà Minh T.

Về con chung: Giao cháu Hà Minh K – sinh ngày 16/8/2013 và Hà Minh H – sinh ngày 02/8/2015 cho bà Thị Châu Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Hà Minh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thị Châu Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0014945, ngày 13/5/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ