vanban.org

Bản án 286/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M đối với bị đơn Bà Huỳnh Phi Y về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc Bà Huỳnh Phi Y phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2025 là: 33.954.730 (ba mươi ba triệu, chín trăm năm mươi bốn nghìn, bảy trăm ba mươi) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 21.540.000 (hai mươi mốt triệu, năm trăm bốn mươi nghìn) đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M đối với bị đơn Bà Huỳnh Phi Y về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2025/DS-ST
Ngày: 26/8/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1 - Ông Vũ Huy Hoàng.

2 - Ông Đặng Văn Ẩn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10

- Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Ngô Hoàng Phương Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 234/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M

Tên viết tắt: Công ty Tài chính M.

Địa chỉ mới: 91 P, Phường S, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên hệ cũ: 91 P, phường S, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV T.

Địa chỉ liên hệ mới: S 401, T 4, Tòa nhà số B A, Phường E, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên hệ cũ: S 401, T 4, Tòa nhà số B A, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) (giấy ủy quyền số 06/2024/GUQ-MAFC ngày 02/4/2024).

Người đại diện theo ủy quyền lại của Công ty Luật TNHH MTV T là ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm 2000 (vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ liên hệ mới: S 401, T 4, Tòa nhà số B A, Phường E, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên hệ cũ: S 401, T 4, Tòa nhà số B A, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 01/7/2024).

Bị đơn: Bà Huỳnh Phi Y, sinh năm 1981 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ mới: D, ấp E, xã G, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: D, ấp E, xã G, thị trấn H, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 15/01/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M là ông Nguyễn Phạm Thành N trình bày như sau:

1/ Nội dung vụ việc:

Ngày 06/10/2023, Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M (sau đây gọi tắt là Công ty Tài chính M) ký Hợp đồng tín dụng số: 4968807 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho Bà Huỳnh Phi Y với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty Tài chính M đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho Bà Huỳnh Phi Y. Theo Hợp đồng tín dụng, Bà Huỳnh Phi Y có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 2.402.016 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/11/2023 đến ngày 10/10/2026.

Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 28/07/2024 Bà Huỳnh Phi Y đã thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty Tài chính M đã giải ngân.

Công ty Tài chính M đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị Bà Huỳnh Phi Y thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty Tài chính M cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho Bà Huỳnh Phi Y biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, Bà Huỳnh Phi Y vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty Tài chính M.

Tính đến ngày 26/8/2025, Bà Huỳnh Phi Y đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng.

Số tiền lãi trong hạn: 11.676.064 đồng.

Số tiền lãi quá hạn: 0 đồng.

Số tiền lãi chậm trả: 738.666 đồng.

Như vậy tính đến ngày 26/8/2025 tổng số tiền Bà Huỳnh Phi Y phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi) là: 33.954.730 đồng.

2/ Yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau đây:

Buộc Bà Huỳnh Phi Y thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty Tài chính M với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi), tạm tính đến ngày 26/8/2025 là: 33.954.730 đồng. Đồng thời thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/8/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.

Bị đơn là Bà Huỳnh Phi Y vắng mặt trong tất cả các lần triệu tập đến Tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tuân theo tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M (sau đây gọi tắt là Công ty Tài chính M) khởi kiện Bà Huỳnh Phi Y yêu cầu bà Y thanh toán khoản tiền vay nợ Căn cứ đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4968807 ngày 06/10/2023 với mục đích tiêu dùng. Tại Hợp đồng Bà Huỳnh Phi Y có ghi địa chỉ tại: D, ấp E, xã G, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: D, ấp E, xã G, thị trấn H, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh cũ).

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của Công ty Tài chính M là ông Nguyễn Phạm Thành N vắng mặt có đơn đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt. Bị đơn Bà Huỳnh Phi Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N và bà Y theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Y nhưng bà Y vẫn vắng mặt không đến Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn. Điều này cho thấy bà Y đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2023 nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023, Bà Huỳnh Phi Y ký vay Công ty Tài chính M (Việt Nam) số tiền 21.540.000 đồng với thời hạn vay 36 tháng, trả góp hàng tháng mỗi kỳ là 2.402.016 đồng, lãi suất hàng tháng 3.58%/tháng, lãi suất năm là 43%/năm. Công ty đã giải ngân đầy đủ khoản vay vào tài khoản cá nhân của bà Y.

Tuy nhiên, bị đơn mới thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền là 6.235.193 đồng và sau đó không tiếp tục thanh toán, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023.

Tính đến ngày 26/8/2025, Bà Huỳnh Phi Y đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.540.000 đồng.

Số tiền lãi trong hạn: 11.676.064 đồng.

Số tiền lãi quá hạn: 0 đồng.

Số tiền lãi chậm trả: 738.666 đồng.

Như vậy tính đến ngày 26/8/2025 tổng số tiền Bà Huỳnh Phi Y phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi) là: 33.954.730 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Đối với yêu cầu thanh toán tiền gốc của Công ty Tài chính M

Công ty Tài chính M yêu cầu bà Y trả nợ gốc là: 21.540.000 đồng.

Căn cứ vào Bảng tóm tắt sao kê của Công ty tài chính cho thấy kể từ ngày vay đến nay bà Y đã thanh toán cho công ty được 06 kỳ (ngày 11/11/2023 thanh toán gốc, lãi, phí: 1.637.000 đồng, ngày 10/12/2023 thanh toán gốc, lãi, phí: 773.000 đồng, ngày 10/01/2024 thanh toán gốc, lãi, phí: 797.986 đồng, ngày 06/02/2024 thanh toán gốc, lãi, phí: 798.653 đồng, ngày 27/02/2024 thanh toán gốc, lãi, phí: 747.901 đồng, ngày 12/4/2024 thanh toán gốc, lãi, phí: 798.653 đồng, ngày 27/7/2024 thanh toán gốc, lãi, phí: 682.000 đồng) với tổng số tiền đã thanh toán là 6.235.193 đồng, sau đó bà Y không thanh toán cho công ty nữa.

Tại Điều 8 giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023, quy định thanh toán nợ gốc, tiền lãi và các nghĩa vụ tài chính khác thì bà Y đã nhiều lần không thanh toán đầy đủ cho Công ty tài chính. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Y đã vi phạm nghĩa vụ với Công ty tài chính. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên tại đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng

Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính M buộc Bà Huỳnh Phi Y thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty Tài chính M với số tiền nợ gốc là: 21.540.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[7] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi của Công ty Tài chính M.

Công ty tài chính yêu cầu bà Y trả nợ lãi trong hạn: 11.676.064 đồng, Số tiền lãi chậm trả: 738.666 đồng.

Đồng thời phải thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/8/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.

Căn cứ khoản 8.3 Điều 8 tại giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023, quy định thanh toán tiền lãi là phù hợp quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính M buộc Bà Huỳnh Phi Y thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty Tài chính M với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi), tạm tính đến ngày 26/8/2025 là: 33.954.730 đồng (Nợ gốc là 21.540.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 11.676.064 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 0 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 738.666 đồng). Buộc Bà Huỳnh Phi Y còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023 kể từ ngày 27/8/2025 đến ngày trả hết nợ.

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Bà Huỳnh Phi Y tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 –Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 6 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; cụ thể: Bà Huỳnh Phi Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.697.737 đồng (Một triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm ba mươi bảy đồng).

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty Tài chính M.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M đối với bị đơn Bà Huỳnh Phi Y về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc Bà Huỳnh Phi Y phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2025 là: 33.954.730 (ba mươi ba triệu, chín trăm năm mươi bốn nghìn, bảy trăm ba mươi) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 21.540.000 (hai mươi mốt triệu, năm trăm bốn mươi nghìn) đồng; Số tiền lãi trong hạn: 11.676.064 (mười một triệu, sáu trăm bảy mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi bốn) đồng; Số tiền lãi chậm trả: 738.666 (bảy trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày 27/8/2025 cho đến khi thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ thanh toán, Bà Huỳnh Phi Y còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh trên số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4968807 ngày 06/10/2023.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất trong từng thời kỳ thì mức lãi suất tiếp tục áp dụng cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh của nguyên đơn.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Phi Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.697.737 đồng (một triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm ba mươi bảy đồng).

Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 639.825 (Sáu trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm hai mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0052136 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ