vanban.org

Bản án 286/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lâm Thị N.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lâm Thị N và anh Nguyễn Văn Q. Về con chung: Giao cho chị N có trách nhiệm nuôi các cháu Lâm Thị Diễm M, sinh ngày 25/5/2005, Lâm Thị Diễm T sinh ngày 13.10.2006 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14.07.2016. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền đến thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lâm Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 07 - 2022
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Duyên Văn Hiền

Ông: Phan Văn Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 317/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 06 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lâm Thị N, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt không rỏ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/04/2022 và lời trình bày nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

- Về hôn nhân: Chị N và anh Q tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2005 không đăng ký kết hôn, đến năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau (theo giấy trích lục kết hôn số 461, ngày 20.04.2018, giấy đăng ký kết hôn số 145 ngày 29.5.2013). Quá trình chung sống có 3 con chung tên Lâm Thị Diễm M, sinh ngày 25/5/2005, Lâm Thị Diễm T sinh ngày 13.10.2006 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14.07.2016, hiện nay các cháu đang sống với chị N, chị N yêu cầu nuôi các cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cải nhau, anh Q không quan tâm đến gia đình, vợ chồng sống ly thân đã lâu không có thiện chí hàn gắn trở lại.

Nay xét thấy không hạnh phúc nên yêu cầu xin ly hôn với anh Q, con chung yêu cầu được nuôi hết các con không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung vợ chồng tự thõa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Văn Q: Tòa án đã triệu tập bị đơn Q nhiều lần để hòa giải và để xét xử nhưng bị đơn Q vắng mặt không rỏ lý do, nên chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về mối quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con với bị đơn, do đó xác định mối quan hệ pháp luật giữa các đương sự là “Ly hôn và nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, nội dung tranh chấp là việc “Ly hôn và nuôi con”, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về thủ tục của Tòa án: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn tòa án đã triệu tập đến lần thứ 2 nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh Q và chị N không làm được điều đó mà ngược lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N đã xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Q, vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài nhưng không có thiện chí hàn gắn trở lại, chị N cương quyết xin ly hôn với anh Q. Hơn nữa Tòa án đã triệu tập anh Q nhiều lần để hòa giải và xét xử nhưng anh Q vắng mặt không rỏ lý do, như vậy chứng tỏa anh Q không quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng với chị N. Từ những nhận định trên xét thấy việc yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận, cho chị Lâm Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Xét về con chung: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy các cháu Lâm Thị Diễm M, sinh ngày 25/5/2005, Lâm Thị Diễm T sinh ngày 13.10.2006 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14.07.2016, từ khi ly thân đến nay chị N trực tiếp nuôi dạy các cháu, qua làm việc với các cháu, cháu M, T, N điều có nguyện vọng sống với chị N, chị N củng xác định đủ điều kiện nuôi dạy 3 con chung. Do đó tiếp tục giao các cháu M, T, N cho chị N nuôi dạy là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Việc thăm mon chăm sóc con chung: Anh Q có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Q thực hiện quyền này và anh Q phải tôn trọng quyền của các con được sống với chị N là phù hợp với Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về tài sản chung và nợ chung: Đối với nguyên đơn cho rằng vợ chồng tự thõa thuận tài sản chung và nợ chung. Nhưng quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn nên cần tách phần tài sản chung và nợ chung ra khi nào bị đơn có yêu cầu mà có căn cứ thì giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Xét về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lâm Thị N.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lâm Thị N và anh Nguyễn Văn Q.

Về con chung: Giao cho chị N có trách nhiệm nuôi các cháu Lâm Thị Diễm M, sinh ngày 25/5/2005, Lâm Thị Diễm T sinh ngày 13.10.2006 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14.07.2016. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Q thực hiện quyền này và anh Q phải tôn trọng quyền của các cháu được sống với chị N.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị N đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số 0004904 ngày 02/06/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ