- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 286/2019/HS-ST Ngày: 18/12/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Ông Vũ Mạnh Huề
- Thƣ ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoa - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 18 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 319/2019/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 272/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn M – sinh năm: 1973; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Không xác định; Chỗ ở: phố H, phƣờng M, quận K, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không ; Con ông: Vũ Văn D ( Đã chết ); Con bà: Nguyễn Thị P (Đã chết ); Nhân thân: 02 tiền án:
- Năm 2009, TAND Đống Đa xử 26 tháng tù giam tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích)
- Năm 2012, TAND Hai Bà Trƣng xử 30 tháng tù giam tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích)
Danh chỉ bản số: 0373 ngày 15/10/2019 do công an quận Hai Bà Trƣng cấp; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/10/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 16h30’ ngày 11/10/2019 tổ công tác Công an phƣờng Bạch Đằng đang làm nhiệm vụ tại khu vực 1B9 Đầm Trấu, P.Bạch Đằng, Hai Bà Trƣng, Hà Nội phát hiện Vũ Văn M đang điều khiển xe máy BKS: 29C1 – 556.40 có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của M 01 túi nilon trong suốt kích thƣớc (02x03)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (tại chỗ M khai nhận là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, đƣa đối tƣợng về trụ sở để điều tra làm rõ. Ngoài ra tổ công tác thu giữ của M: 01 điện thoại Samsung SM – N959F màu đen (đã quả sử dụng); 01 chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29C1 – 556.40; 12.000.000đ (Mƣời hai triệu đồng) .
Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã ra quyết định trƣng cầu giám định số ma túy thu giữ đƣợc của M.
Tại bản kết luận giám định số 6553/KLGĐ-PC09 ngày 18/10/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine khối lượng: 0,431 gam.”
Quá trình điều tra, Vũ Văn M khai nhận: Khoảng 15h45’ ngày 11/10/2019, có nam thanh niên là bạn xã hội dùng số điện thoại 0976709*** (M lƣu trong điện thoại là “Sân gôl”, không biết tên tuổi, địa chỉ) gọi vào số điện thoại 0886462*** của M rủ mua 300.000 đồng tiền ma túy đá rồi mang về Khách sạn grand trong khu Đầm Trấu, Hà Nội để cả hai cùng sử dụng. M đồng ý và điều khiển xe máy BKS: 29C1 – 556.40 đi đến khu vực Cửa khẩu Chƣơng Dƣơng Độ, gặp và mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 túi nilon ma túy đá với giá 300.000đ. M cầm 01 túi ma túy đá vừa mua đƣợc trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về điểm hẹn với “sân gôl”. Khoảng 16h30’ cùng ngày, khi M đi đến khu vực 1B9 Đầm Trấu, P.Bạch Đằng, Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải M đi xác định địa điểm mua ma túy và nam thanh niên đã bán ma túy cho M. Kết quả M xác định đƣợc địa điểm mua ma túy nhƣng không xác định đƣợc nam thanh niên đã bán ma túy, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xác M xử lý.
Tại cáo trạng số: 296/CT-VKS ngày 20/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/10/2019, tại khu vực 1B9 Đầm Trấu, phƣờng Bạch Đằng, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Vũ Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,431 gam Methamphetamine. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Vũ Văn M với mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,431 gam Methamphetamine; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã vỡ mặt sau do bị cáo sử dụng liên lạc với ngƣời rủ sử dụng ma túy chung. Trả lại bị cáo 12.000.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/10/2019, tại khu vực 1B9 Đầm Trấu, phƣờng Bạch Đằng, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Vũ Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,431 gam Methamphetamine . Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, tiếp tay cho các tội phạm về ma túy khác phát triển, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do nghiện vẫn cố tình phạm tội. Nhân thân bị cáo xấu có 02 tiền án về cùng loại tội. Chứng tỏ bị cáo đã đƣợc các cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhƣng không chịu sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,431 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo.
Đối với ngƣời đàn ông tên “Sân Gol”, sử dụng SĐT 0976709*** đã gọi điện cho M vào ngày 11/10/2019, rủ M mua ma túy để cùng sử dụng : M khai báo không rõ nhân thân, lai lịch, gặp lại M không nhận ra đƣợc. Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ điện tín, nhƣng chƣa có kết quả. Vì vậy, ngày 13/11/2019, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan đến SĐT 0976709*** để tiếp tục điều tra.
Đối với chiếc xe máy Honda BKS: 29C1 – 556.40, SK: C100M – 8150517; SM: C100ME - 8150517 Cơ quan CSĐT đã trƣng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội giám định số khung, số máy của chiếc xe trên nhƣng chƣa có kết quả. Vì vậy, ngày 13/11/2019, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe để xử lý sau.
Việc cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến SĐT 0976709***
và tài liệu liên quan đến chiếc xe máy Honda BKS: 29C1 – 556.40, SK: C100M – 8150517; SM: C100ME - 8150517 để tiếp tục điều tra không ảnh hƣởng gì đến quá trình giải quyết vụ án và phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung SM – N959F Imei1 : 352008099133867, Imei2 : 352009099133865, (đã vỡ mặt sau): M khai là điện thoại dùng để liên lạc với ngƣời đàn ông tên “Sân Gol”. Chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tịch thu sung công.
Đối với số tiền 12.000.000 đồng thu giữ của M là tài sản cá nhân, không liên quan đến vụ án nên trả lại bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Vũ Văn M 24 ( hai mươi tư ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2019.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Vũ Văn M, bên trong chứa 0,431 gam Methamphetamine.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung SM – N950F/DS màu đen, bị vỡ mặt sau, Imei1: 352008099133867, Imei2: 352009099133865.
Trả lại bị cáo số tiền 12.000.000 đồng.
( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2019, tang vật số 77/20 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản không ghi ngày, tháng 11 năm 2019 tại Kho bạc Nhà nƣớc quận Hai Bà Trƣng, mã ĐVQHNS: 1049415 )
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| NƠI NHẬN : - Bị cáo - Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng - Công an Quận Hai Bà Trƣng - Chi cục THA dân sự Q. Hai Bà Trƣng - Lƣu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Nguyệt Ánh |