- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Cẩm T - Võ Văn Y"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm T đối với anh Võ Văn Y. Cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 286/2017/HN-ST Ngày: 06-9-2017 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Thúy Bắc - Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;
Bà Đinh Hồ Mỹ Ngọc - Trường PTTH Trần Văn Kiết huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
Ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/2017/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2017, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Chị Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 1990; Vắng có yêu cầu xét xử vắng mặt
Đăng ký thường trú: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn:
Anh Võ Văn Y, sinh năm 1989; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2017, bản tự khai ngày 05/7/2017 nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm T trình bày:
Chị và anh Võ Văn Y tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/7/2014. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau; từ đó chị và anh Y sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Y không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Huỳnh Tấn P, sinh ngày 17/12/2013, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T.
Bị đơn anh Võ Văn Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng anh Y không có mặt, vụ án không tiến hành mở phiên hòa giải được và tại phiên tòa anh Y vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Y là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Y tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/7/2014 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị T và anh Y đã sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Y, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh Y thực tế là có xảy ra và giữa hai người có thời gian sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay, với khoảng thời gian trên cũng đủ cho anh, chị suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Y là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất nhằm đem lại tự do cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Y là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Huỳnh Tấn P, sinh ngày 17/12/2013. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Huỳnh Tấn P. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị T là chính đáng, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị T là người trực tiếp nuôi con chung, bản thân chị T cũng có việc làm và thu nhập đủ để đảm bảo cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho cháu P. Vì vậy, việc giao con cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nên không xét đến.
Về án phí: Chị Huỳnh Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 147, 207, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm T đối với anh Võ Văn Y. Cụ thể tuyên:
Chị Huỳnh Thị Cẩm T được ly hôn với anh Võ Văn Y.
- Về con chung, việc cấp dưỡng nuôi con:
Chị Huỳnh Thị Cẩm T được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Võ Huỳnh Tấn P, sinh ngày 17/12/2013. Ghi nhận chị Huỳnh Thị Cẩm T không yêu cầu anh Võ Văn Y cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Văn Y được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp anh Y lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của anh Y.
Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của anh Y, chị T hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Cẩm T khai không có nên không xét đến.
2/ Về án phí: Chị Huỳnh Thị Cẩm T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023568 ngày 13/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Chị T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Chợ Lách;
- Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách;
- Cơ quan đăng ký kết hôn;
- Lưu HSVA+VP.
Lê Chí Hậu
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chợ Lách; - Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu HSVA+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Chí Hậu |