- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2025/HS-PT Ngày: 12-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy
Ông Trần Hữu Tính
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 225/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Võ Tấn P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp).
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Tấn P, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1982. Nơi sinh: Tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp). Số CCCD: 082082000861 do Cục trưởng Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 25/3/2021. Nơi đăng ký thường trú: số A, ấp A, xã Đ, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Nay là số A, Khu phố B, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp). Nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Tấn P1 và bà Nguyễn Thị Kim P2. Vợ: Phùng Thị Thúy L. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền sự: không. Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/10/2024, tạm giam từ ngày 10/10/2024 đến ngày 28/4/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Huỳnh Ngọc Phi Y, sinh này 16/8/2015 (chết)
2. Huỳnh Ngọc Thiên K, sinh ngày 16/02/2018 ( có mặt)
Cùng địa chỉ: số A Ô, Khu I, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là 198 Ô 1, Khu I, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi ở hiện nay: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp).
- Đại diện theo pháp luật của bị hại Huỳnh Ngọc Phi Y, Huỳnh Ngọc Thiên K:
+ Ông Huỳnh Quốc P3, sinh năm 1988 (có mặt)
+ Bà Đặng Kim P4, sinh năm 1985 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp B, xã V, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi ở hiện nay: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp).
3. Ông Huỳnh Quốc P3, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ thường trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp B, xã V, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi ở hiện nay: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp).
4. Anh Huỳnh Thiên P5, sinh ngày 05/3/2007 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, Tiền Giang (Nay là ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp)
5. Chị Phan Thị Kim N, sinh ngày 29/11/2007 (có mặt)
- Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh Q, sinh năm 1978 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp L, xã Q, huyện C, Tiền Giang (Nay là ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp).
2. Ông Huỳnh Trường G, sinh năm 2000 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
3. Bà Phùng Thị Thúy L, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: A, H, Phường A, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Nay là A H, Phường M, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi ở hiện nay: 1233 ấp A, xã Đ, Thành phố M, Tiền Giang (Nay là 1233 Ấp A, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp).
4. Bà Lê Trần Thanh T1, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: số A, Tổ C, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là số 198 Tổ C, ấp B, xã H, tỉnh Đồng Tháp).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: A Ô1, Khu I, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là 117A Ô 1, Khu I, xã C, tỉnh Đồng Tháp)
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm L1, sinh năm 1955 (có mặt);
Địa chỉ: A, Ô, Khu I, Thị trấn C, huyện C, Tiền Giang (Nay là 117A Ô 1, Khu I, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi ở hiện nay: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp B, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/10/2024, Võ Tấn P điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu HONDA ACCORD, biển số 63A - 010.38 lưu thông trên Quốc lộ E hướng từ Thành phố G đi Thành phố M. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì P ngủ gật dẫn đến xe chạy sang phần đường bên trái đụng vào xe mô tô hai bánh, kiểu dáng DREAM, biển số 63K4-3341 do Huỳnh Thiên P5 điều khiển chở phía sau Phan Thị Kim N đang lưu thông theo hướng ngược lại. Sau đó xe ô tô tiếp tục chạy lên lề đường đụng vào phía sau xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda Satria, biển số 63B8-642.39 do anh Huỳnh Quốc P3 điều khiển đang dừng bên trong lề đường bên trái theo hướng lưu thông của xe ô tô, xe của anh P3 đang chở 02 con ruột là Huỳnh Ngọc Phi Y và Huỳnh Ngọc Thiên K (Kim ngồi giữa). Sau tai nạn, P điều khiển xe ô tô chạy khỏi hiện trường. Hậu quả: cháu Huỳnh Ngọc Phi Y tử vong. Các cháu Huỳnh Thiên P5, Phan Thị Kim N, Huỳnh Ngọc Thiên K và anh Huỳnh Quốc P3 bị thương, hư hỏng các phương tiện liên quan. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/10/2024, Võ Tấn P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện C đầu thú.
Tại cơ quan điều tra P khai nhận, trước khi điều khiển xe ô tô biển số 63A– 010.38, P đã có uống bia (khoảng 04 lon). Khi điều khiển xe ô tô đến khu vực cây xăng M1 thuộc ấp T, xã A thì buồn ngủ nên P ngủ gật, dẫn đến xe ô tô lao sang phần đường bên trái. Sau khi nghe tiếng va chạm, P tỉnh dậy và nhìn thấy xe ô tô đụng vào đống cây bên trong lề, P không nghĩ đã gây tai nạn nên không xuống xe kiểm tra mà điều khiển xe chạy đi. Chạy đến khu vực vòng xoay Chợ G, P phát hiện xe ô tô bị bể lốp nên P điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Hoàng M. Sau đó, P gửi lại xe ô tô và nhờ bà Nguyễn Thị Cẩm L1 (là mẹ của anh M) điều khiển xe mô tô hai bánh chở P về Thành phố M tham dự cuộc họp tại Ngân hàng BIDV tỉnh T. Sau đó biết đã gây ra tai nạn nên P đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp các giấy tờ, vật chứng liên quan.
Quá trình điều tra xác định bị cáo được Bộ G1 cấp giấy phép lái xe hạng B2 số 820095000565 ngày 19/01/2024, có giá trị đến ngày 19/01/2034, bị cáo đồng ý kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bị cáo do Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tiền Giang xét nghiệm vào lúc 20 giờ 16 phút ngày 07/10/2024 là 26,5 mmol/L (trị số bình thường là < 5,4 mmol/L).
* Sau tai nạn, cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan xác định như sau:
- Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nằm trên đường Quốc lộ 50 đoạn thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo hướng Đ (từ G về M). Mặt đường tráng nhựa bằng phẳng, rộng 11 mét, đường có 02 chiều cho xe lưu thông, giữa tim đường có vạch kẻ phân cách màu vàng đứt khúc. Đoạn đường xảy ra tai nạn không bị che khuất tầm nhìn, có hệ thống đèn đường thắp sáng vào ban đêm. Chọn mép lề đường hướng Nam làm lề chuẩn. Chọn trụ điện số 143A bên ngoài lề đường hướng Nam làm điểm mốc (vật chuẩn).
Xe ô tô 63A - 010.38 di chuyển trên Quốc lộ E theo hướng từ Đông sang T (từ G về M). Gọi A1 là khu vực vùng va chạm thứ nhất giữa xe ô tô 63A - 010.38 với xe mô tô hai bánh biển số 63K4 - 3341. Tâm A1 nằm trên mặt đường, từ tâm A1 đo vuông góc đến lề chuẩn là 2,0 mét. Gọi A2 là khu vực vùng va chạm thứ hai giữa xe ô tô 63A - 010.38 với xe mô tô hai bánh biển số 63B8 - 642.39, tâm A2 nằm bên ngoài lề chuẩn, từ tâm A2 đo vuông góc đến lề chuẩn là 1,4 mét và cách vùng va chạm thứ nhất A1 về hướng T khoảng cách là 18,4 mét.
- Khám phương tiện liên quan:
+ Khám xe ô tô biển số 63A-010.38, nhãn hiệu HONDA ACCORD, màu sơn đen ghi nhận: hư hỏng toàn bộ, biến dạng phần đầu xe, nắp ca bô, cản trước, mất biển số xe, bể hộp đèn chiếu sáng trước phía bên trái, bể kính chắn gió, bể mất cung chắn bùn bánh trước, lốp bánh trước bị xẹp, xước trượt hư hỏng cửa sau bên trái, xước trượt lốp bánh trước bên phải, hư hỏng niền bánh trước bên phải, bể cản sau của xe. Không khởi động được động cơ.
+ Khám xe mô tô hai bánh biển số 63K4–3341 ghi nhận: bể hư hỏng hoàn toàn đồng hồ kilomet, đèn chiếu sáng trước, đèn xin đường 02 bên, mặt nạ, niền, lốp bánh trước, phuột giảm xốc, cung chắn bùn, ốp nhựa bên trái thân xe; xước trượt, mài mòn kim loại đầu tay cầm lái bên trái; thụng mốp biến dạng khung kim loại của xe, bể kim loại đùm bánh trước, cong bàn đạp cần số, đầu gác chân trước, bung ốp nhựa bên phải thân xe. Hệ thống lái bị hư hỏng, không khởi động được động cơ.
+ Khám xe mô tô hai bánh biển số 63B8 – 642.39 ghi nhận: Bể bung hộp nhựa đầu xe, đèn chiếu sáng phía trước, cong biến dạng bô xe, cong bàn đạp cần số, gãy cung chắn bùn phía sau, bể biến dạng biển số xe, bể hộp đèn phía sau xe; xước trượt kính chiếu hậu, đầu tay cầm lái, cần thắng, ốp nhựa bên trái thân xe, đầu gác chân trước, gác chân sau. Không khởi động được động cơ.
Tại Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Võ Tấn P do Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tiền Giang xét nghiệm vào lúc 20 giờ 16 phút ngày 07/10/2024 là 26,5 mmol/L (trị số bình thường là < 5,4 mmol/L); âm tính với các thành phần chất ma túy.
* Tại Kết luận giám định số 1313/KL-KTHS(Đ2) ngày 28/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận:
- Dấu vết cong vênh, gãy vỡ, biến dạng phần đầu xe bên trái (biến dạng kim loại và bong tróc sơn màu đen nắp ca pô, cong vênh cản trước, gãy rời biển số, bể hệ thống đèn trước bên trái) chiều hướng từ trái qua phải và từ trước ra sau; dấu vết trượt xước, mất sơn màu đen và bám chất màu nâu kích thước (30x26)cm bên trái nắp ca pô trước chiều hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau; dấu vết in, bám chất màu xanh trên cản trước bên trái kích thước (2,5x3)cm của xe ô tô biển số 63A-010.38 phù hợp với dấu vết bể vỡ, mất nhựa phần đầu và hệ thống đèn chiếu sáng, đèn xi nhan trước; cong vênh, biến dạng vành bánh xe trước chiều hướng từ trước ra sau; dấu vết biến dạng vỏ cách điện màu xanh và dấu vết cong vênh, biến dạng, bám chất màu đen kích thước (5x2,5)cm trên bộ phận giảm sốc trước bên trái của xe mô tô hai bánh biển số 63K4-3341. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.
- Ngay trước khi xảy ra va chạm, xe ô tô biển số 63A-010.38 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E, theo hướng từ Thành phố G đi Thành phố M và ngược chiều với xe mô tô hai bánh biển số 63K4-3341 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E theo hướng từ Thành phố M đi Thành phố G.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 63A-010.38 với xe mô tô hai bánh 63K4-3341 so với mặt đường (điểm đụng) thuộc phần đường bên trái vạch kẻ phân làn đường (tim đường) theo chiều lưu thông của xe ô tô biển số 63A-010.38.
- Dấu vết mài mòn, mất sơn màu đen; vết thủng nhựa không rõ hình dạng kích thước (2,5x1,2)cm và dấu vết trượt xước chiều hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau trên cản nhựa trước bên phải của xe ô tô biển số 63A-010.38 phù hợp với dấu vết bể vỡ đèn sau; gãy rời chắn bùn sau (có gắn biển số 63B8-642.39); gãy gác chân sau bên phải; dấu vết trượt xước, mất bụi và bám chất màu đen kích thước (26x12)cm, cong vênh, biến dạng ống xả (pô xe) chiều hướng từ sau ra trước của xe mô tô hai bánh biển số 63B8-642.39. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.
- Ngay trước khi xảy ra va chạm, xe ô tô biển số 63A-010.38 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E theo hướng từ TP . đi TP . và xe mô tô hai bánh biển số 63B8-642.39 đang dừng ở lề đường trái theo hướng lưu thông của xe ô tô biển số 63A-010.38.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 63A-010.38 với xe mô tô hai bánh biển số 63B8-642.39 so với mặt đường (điểm đụng) thuộc lề đường bên trái vạch kẻ phân làn đường (tim đường) theo chiều lưu thông của xe ô tô biển số 63A-010.38.
Tại Kết luận giám định tử thi số 334-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 07/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Huỳnh Ngọc Phi Y: chấn thương sọ não hở do vỡ toàn bộ xương sọ vùng trán đỉnh chẩm; vỡ toàn bộ khối xương hàm mặt; dập vỡ toàn bộ nhu mô não; gãy xương sườn do tai nạn giao thông.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 67/BVĐKTG-GCN ngày 26/02/2025 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T và số 443/CN-BVCR ngày 16/4/2025 của Bệnh viện C – Bộ Y1 xác định Huỳnh Thiên P5 vào Bệnh viện đa khoa tỉnh T ngày 07/10/2024, sau đó được chuyển đến Bệnh viện C điều trị với nhiều vết thương ở vùng đầu, tay, chân, bụng do tai nạn giao thông.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 92-2025/KLTTCT-TTPY ngày 08/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- Sẹo vết mổ từ 1/3 dưới trước cẳng tay trái đến mặt trước cổ tay trái; Sẹo vết mổ trùng vết thương mặt ngoài đùi trái; Sẹo vết mổ 1/3 trên ngoài đùi trái; Hai sẹo vết mổ vùng mông trái; Sẹo vết thương 1/3 giữa trước cẳng chân phải; Sẹo vết mổ từ 1/3 giữa trước đến 1/3 dưới trước cẳng chân phải; Sẹo vết thương vùng trán trái; Sẹo vết mổ từ trán phải đến thái dương trái hình cung; Sẹo vết mổ 1/3 giữa trong cẳng chân phải; Sẹo vết mổ 1/3 giữa ngoài cẳng chân phải; Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh; Nứt sọ trán thái dương trái; Gãy 1/3 giữa xương chày phải, đã phẫu thuật, cal tốt, trục thẳng, không ngắn chi; Gãy 1/3 giữa xương đùi trái, đã phẫu thuật kết hợp xương; Gãy đầu dưới xương quay trái, đã phẫu thuật cal tốt.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả CT Scanner sọ não: Hiện CT Scanner sọ não chưa ghi nhận hình ảnh bất thường. Nứt sọ trán, thái dương trái. Dấu mở sọ thái trái;
+ Kết quả xương cẳng tay trái: Gây đầu dưới xương quay trái. Nẹp vít kết hợp xương;
+ Kết quả xương đùi trái: Gãy 1/3 giữa xương đùi trái. Đinh kết hợp xương đùi trái;
+ Kết quả xương cẳng chân phải: Gãy 1/3 giữa xương chày phải đã can xương. Nẹp vít kết hợp xương chày phải.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Huỳnh Thiên P5 là 57% (Năm mươi bảy phần trăm).
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 74/BVĐKTG-GCN ngày 27/02/2025 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T xác định Huỳnh Ngọc Thiên K vào bệnh viện ngày 07/10/2024 với vết thương đỉnh đầu khoảng 02 cm, sây sát mặt tay chân phải do tai nạn giao thông.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 82-2025/KLTTCT-TTPY ngày 25/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Sẹo vết thương vùng đỉnh phải; Sây sát cổ chân phải, để lại vết thay đổi sắc tố da. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Huỳnh Ngọc Thiên K là 02% (Hai phần trăm). Thương tích do vật tầy gây nên.
Theo phiếu kết quả chụp CT-Scan ngày 08/10/2024 của Phòng khám Đ, tỉnh Tiền Giang chẩn đoán anh Huỳnh Quốc P3 bị chấn thương đầu, cột sống thắt lưng do tai nạn giao thông; vết thương hở gót chân bên trái. Giấy xác nhận thương tích số 2147/GXN-CSHS ngày 15/4/2025, Trung tâm pháp y tỉnh T xác nhận thương tích của anh P3: sẹo vết thương môi dưới, bên phải, kích thước (2x0,2) cm; sẹo vết thương gót chân trái, kích thước (3x0,2) cm do bị tai nạn giao thông vào ngày 07/10/2024.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 104-2025/KLTTCT-TTPY ngày 15/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Huỳnh Quốc P3 là 04% (Bốn phần trăm).
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 66/BVĐKTG-GCN ngày 26/02/2025 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T và số 95/CN-BVCR ngày 05/02/2025 của Bệnh viện C – Bộ Y1 xác định xác định Phan Thị Kim N vào Bệnh viện đa khoa tỉnh T ngày 07/10/2024, sau đó được chuyển đến Bệnh viện C điều trị với nhiều vết thương ở vùng đầu, gãy tay, gãy chân do tai nạn giao thông.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh T trưng cầu giám định thương tích của nạn nhân Phan Thị Kim N. Tuy nhiên, N từ chối giám định thương tích, không chấp hành quyết định dẫn giải của cơ quan điều tra.
Tại Kết luận giám định số 1411/KL-KTHS(Đ2) ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận:
- Xe mô tô hai bánh biển số 63B8 – 642.39 (xe số 01):
+ Số khung: MH8DL11AZKJ205219 trước và sau giám định không đổi ;
+ Số máy: CGA1-ID205278 trước và sau giám định không đổi.
- Xe mô tô hai bánh biển số 63K4 – 3341 (xe số 02):
+ Số khung: Trước và sau giám định, số khung bị rỉ sét, không đọc được.
+ Số máy: 1P50FMG-3-10761566 trước và sau giám định không đổi.
- Xe ô tô biển số 63A – 010.38 (xe số 03):
+ Số khung: JHMCP26708C018175 trước và sau giám định không đổi ;
+ Số máy: K24Z3-1703304 trước và sau giám định không đổi.
Tại Kết luận giám định số 250/KL-KTHS ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận 02 tệp video:
- Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định;
- Không đủ cơ sở kết luận tốc độ di chuyển của xe ô tô gây ra tai nạn do không xác định được quãng đường xe này chạy.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô bị va chạm trước (xe mô tô biển số 63K4-3341) do hình ảnh video thu được là sau va chạm.
- Xe mô tô bị va chạm sau (xe mô tô 63B8-642.39) trên hình ảnh đang dừng đậu nên tốc độ di chuyển là 0 (không) km/h.
Tại Kết luận giám định số 1346/KL-KTHS(Đ2) ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 019972, tên chủ xe Phùng Thị Thúy L, địa chỉ ấp A, xã Đ, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang, xe ô tô nhãn hiệu HONDA, biển số đăng ký 63A-010.38, cấp ngày 14/6/2018 (ký hiệu A1); và 01 (Một) Giấy phép lái xe số 820095000565, họ tên Võ Tấn P, ngày sinh 10/6/1982, địa chỉ ấp A, xã Đ, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang, hạng B2, cấp ngày 19/01/2024 (ký hiệu A2) đều là thật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTS ngày 22/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- Xe mô tô hai bánh, kiểu dáng Dream, biển số 63K4 – 3341. Tổng giá trị thiệt hại các bộ phận trên xe do tai nạn gây ra là 1.235.000 đồng.
- Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Suzuki Satria F150, biển số 63B8 – 642.39. Tổng giá trị thiệt hại các bộ phận trên xe do tai nạn gây ra là 7.075.600 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản thiệt hại của 02 xe mô tô hai bánh là 8.310.600 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp) đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Võ Tấn P phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Tấn P 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành bản án được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 đến ngày 28/4/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11/7/2025, bị cáo Võ Tấn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị hại Phan Thị Kim N và đại diện hợp pháp Phan Thanh Q xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo. Anh Huỳnh Thiên P5 yêu cầu bị cáo tăng mức bồi thường thiệt hại tổng cộng là 300.000.000 đồng. Về phía anh P3, chị P4 là đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo lên 7 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm. Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét.
Về nội dung, cấp sơ thẩm truy tố và xét xử bị cáo P mức án 04 năm tù theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là đầy đủ, phù hợp pháp luật do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận:
Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/10/2024, Võ Tấn P điều khiển xe ô tô, biển số 63A - 010.38 lưu thông trên Quốc lộ E hướng từ Thành phố G đi Thành phố M. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì ngủ gật dẫn đến xe chạy sang phần đường bên trái đụng vào xe mô tô hai bánh biển số 63K4-3341 do Huỳnh Thiên P5 điều khiển chở phía sau Phan Thị Kim N đang lưu thông theo hướng ngược lại. Sau đó xe ô tô tiếp tục chạy lên lề đường đụng vào phía sau xe mô tô hai bánh, biển số 63B8-642.39 do anh Huỳnh Quốc P3 điều khiển đang dừng bên trong lề đường bên trái theo hướng lưu thông của xe ô tô, xe của anh P3 đang chở 02 con ruột là Huỳnh Ngọc Phi Y và Huỳnh Ngọc Thiên K (Kim ngồi giữa). Sau tai nạn, P điều khiển xe ô tô chạy khỏi hiện trường. Hậu quả: cháu Huỳnh Ngọc Phi Y tử vong. Các cháu Huỳnh Thiên P5, Phan Thị Kim N, Huỳnh Ngọc Thiên K và anh Huỳnh Quốc P3 bị thương, hư hỏng các phương tiện liên quan. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/10/2024, Võ Tấn P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện C đầu thú, kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bị cáo do Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tiền Giang xét nghiệm vào lúc 20 giờ 16 phút ngày 07/10/2024 là 26,5 mmol/L (trị số bình thường là < 5,4 mmol/L), lỗi trong vụ tai nạn hoàn toàn thuộc về bị cáo cho nên cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trong đến an toàn, trật tự giao thông trên địa bàn, bỡi lẽ bản thân bị cáo biết, ý thức được khi đã sử dụng rượu, bia thì pháp luật không cho phép điều khiển xe ô tô tham gia giao thông nhưng bị cáo chủ quan, xem thường pháp luật đã điều khiển xe gây tai nạn nghiêm trọng làm chết 01 người, làm bị thương 04 người khác và thiệt hại lớn tài sản, hành vi phạm tội của bị cáo gây nên nỗi đau mất mát không thể bù đắp cho người thân của bị hại, tạo tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông nên cần thiết phải xử lý nghiêm khắc.
Về mức hình phạt và kháng cáo của bị cáo: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã đầu thú, thật thà khai báo, ăn ăn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phan Thị Kim N 180.000.000 đồng, bồi thường cho anh Huỳnh Thiên P5 93.000.000 đồng, nộp 450.000.000 đồng để bồi thường cho gia đình cháu Huỳnh Ngọc Phi Y, bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác, bị cáo có nhân thân tốt, tích cực tham gia công tác từ thiện tại địa phương, gia đình có công với cách mạng, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 02 tình tiết ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm tù là nghiêm khắc, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục nộp 80.000.000 đồng để bồi thường cho phía anh P5, phía bị hại N tiếp tục có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ và xin cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cũng như được xét hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự nhưng hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra rất nặng nề, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giảm cho bị cáo phần nào hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù để cho bị cáo có thời gian, điều kiện cải tạo thành người biết tôn trọng pháp luật.
Về ý kiến của anh P5, phía bị hại P3 tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy những người này đều có tham gia phiên tòa sơ thẩm, đã nhận bản án sơ thẩm, biết rất rõ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm nhưng lại không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét các ý kiến, yêu cầu này.
Việc xử lý vật chứng: Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết xong và phù hợp pháp luật, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Xét ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp).
Tuyên bố bị cáo Võ Tấn P phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Tấn P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành bản án được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2024 đến ngày 28/4/2025.
2. Về án phí: Bị cáo Võ Tấn P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 12/9/2025 có mặt nghe tuyên án bị cáo Võ Tấn P, đại diện hợp pháp của bị hại là anh P3, chị P4, cháu P5, ông T, chị L, bà T1, ông M, đại diện Viện kiểm sát./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - CA tỉnh Đồng Tháp; - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND Khu vực 1 – Đồng Tháp; - VKSND Khu vực 1 – Đồng Tháp ; - Công an phường Đạo Thạnh - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Phòng THADS Khu vực 1 – Đồng Tháp - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Thái Dũng |