- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2023/HS-ST Ngày 15-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thủy - Thư ký Toà án nhân dân TPNĐ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 272/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn B, sinh năm: 1966; nơi thường trú và cư trú: Xóm 1 Đồng L, xã Tân T, huyện Nam T, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/10; con ông: Đinh Văn D (đã chết); con bà: Đinh Thị C (đã chết); vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1972; có 3 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/6/2012, Tòa án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 11/7/2017 Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt Đinh Văn B 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019); bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023, chuyển tạm giam ngày 11/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, tổ công tác Công an phường Ngô Q, TPNĐ làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 61 đường Đinh Bộ L, phường Ngô Q, TPNĐ phát hiện Đinh Văn B đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 14P9-8413 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. B thả từ tay phải xuống đất 01 gói ni lông màu đen, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng có chứa chất bột dạng cục màu trắng (B khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Văn B. Ngoài ra còn tạm giữ của B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu đen, biển kiểm soát 14P9-8413 và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samung màu hồng, đều đã cũ.
Bản kết luận giám định số 1223/KT- KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng (bên ngoài gói giấy bạc màu vàng bọc ni lông màu đen), được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,244 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Đinh Văn B khai nhận: Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 02/8/2023, B điều khiển xe máy biển kiểm soát 14P9-8413 đi từ nhà đến một ngõ nhỏ ở đường Đinh Bộ L, TPNĐ (không nhớ số ngõ) gặp một người đàn ông tên T do bạn bè xã hội giới thiệu (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 1 gói Heroine với giá 200.000 đồng. B cầm gói Heroine trên tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Chiếc xe máy thu giữ của bị cáo, cơ quan điều tra chưa xác minh được nguồn gốc nên tiếp tục xác minh và tách ra xử lý sau.
Bản cáo trạng số 292/CT-VKSND-TPNĐ ngày 01-11-2023 Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ truy tố Đinh Văn B tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đinh Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và khai nguyên nhân bị cáo phạm tội do bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn B về tội danh và điều luật như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Văn B từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; trả lại bị cáo chiếc điện thoại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TPNĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về tội danh:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, Đinh Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,244 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 61 đường Đinh Bộ L, phường Ngô Q, TPNĐ, tỉnh Nam Định,
Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, lời khai người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đinh Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung tăng nặng:
Hành vi của bị cáo không cấu thành tình tiết định khung tăng nặng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn B có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy về hình phạt cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố với mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đinh Văn B tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; 01 chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí Hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Đinh Văn B bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Văn B 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02/8/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong 01 phong bì niêm phong số 1223/KL-KTHS.
Trà lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động được niêm phong trong túi niêm phong mã số: NS3: 1900910 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 11 năm 2023 giữa Công an TPNĐ và Chi cục thi hành án Dân sự TPNĐ).
4. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đinh Văn B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Đinh Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TPNĐ; - Công an TPNĐ; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |