- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2022/HSST Ngày: 26-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Luận
Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc An - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 296/2022/HSST, ngày 06 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2022/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Thị H, sinh năm 1966.
Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Phố Y, phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Mạnh Đ (đã chết) và bà Vũ Thị Đ (đã chết); Có chồng là Đàm Văn T; Có 4 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh 2005; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h30 phút ngày 13/11/2021, tổ công tác thuộc Đội 4, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang Lê Thị Hường đang bán số lô, số đề cho Đỗ Xuân T, với tổng số tiền dùng mua số đề 88.000đ.
Tại chỗ tổ công tác thu giữ của Lê Thị Hường:
- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 10.000.000 đồng;
- 08 phôi lô đề được đánh số từ 01 đến 08;
- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA (đã qua sử dụng).
Thu giữ của Nguyễn Thức L 01 phiếu ghi số lô, đề được ký hiệu A và 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy.
Sau khi lập biên bản bắt quả tang, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa, Lê Thị Hường khai nhận: H bán hàng tạp hóa tại nhà và đã bán số lo số đề cho những người đến mua hàng, sau đó chuyển cho một nam thanh niên không quen đến nhận bảng. Ngày 13/11/2021, H có bán số lô, số đề cho một số người, trong đó có người biết tên và có người không biết tên.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa đã xác định trong ngày 13/11/2021 H đã bán số lô, số đề như sau:
1. Bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị L, các số sau: Xiên 3 (52,70,99) x 1.000 đồng; Xiên 3 (02, 53, 82) x 1.000 đồng; Xiên 2 (52, 70) x1.000 đồng.
Tổng số tiền là 3.000đ (Ba nghìn đồng).
2. Bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị O, các số sau: Các số đề (69,96,19,91, 36,63,13,31) x 6 đ; Xiên (31,63) x 2.000đ; (31,36) x 2.000đ, (49,99) x 2.000đ, Xiên 3 (31,63,29) x 1.000đ. Tổng số tiền là 47.000đ (Bốn mươi bảy nghìn đồng).
Ngoài ra Lê Thị H còn bán số lô, số đề cho một số người không biết tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã trích xuất camera an ninh tại nhà Lê Thị H để xác định nhân thân, lý lịch của người mua số lô, số đề. Kết quả kiểm tra xác định được từ 16h25 phút ngày 13/11/2021 đến khi bị bắt giữ (17h45 phút 12 giây) gia đình Hường có 34 lượt người ra vào, tuy nhiên không xác định được tên tuổi, địa chỉ của những người này.
Đấu tranh đối với các phiếu ghi số lô, số đề đã thu giữ xác định các phiếu được đánh số (3);(4);(5);(6);(7) (ghi thu của Lê Thị Hường) là phiếu ghi số lô, số đề Lê Thị H bán cho người mua; Đối với phiếu ghi được đánh số 01,02 là bảng tổng hợp số lô, số đề đã được H tổng hợp từ các phiếu ghi số lô, số đề mà H đã bán. Cụ thể:
Tờ số 1 gồm:
- Mặt trước: Đầu 7 x 10 đ ( 10 số); Tổng lẻ đầu thấp (01,03,05,07,09,21,23,25,27,29) x 20 đ; Hệ 19 (19,91,69,96,46,64,14,41) x 44 đ; Hệ 12 ( 12,21,17,71,26,62,67,76) x 5 đ; Đầu 3 x 6 đ (từ 30 - 39); Đâu 4 x 6 đ (từ 40 - 49); lô 11 x 8đ; 96 x 20đ. Tổng mặt trước tờ số 1 là 491 điểm đề và 25 điểm lô.
- Mặt sau: 01 x 25 đ, 02 x 20 đ, 03 x 15 đ, 06 x 15 đ, 07 x 12đ, 09 x 30 đ, 10 x 55 đ; 11 x 25 đ, 12 x 35 đ, 13 x 5 đ, 14 x 60đ, 15 x 45 đ, 16 x 65 đ 17 x 255 đ, 19 x 55d 20 x 23 đ, 21 x 100đ, 25 x 188 đ; 26 x 60 đ; 30 x12 đ; 31 x 10đ, 32 x 10 đ, 33 x 55d 34 x 12 đ, 36 x 10đ, 37 x 10đ, 40 x 18đ, 41 x 70 đ, 43 x 12đ, 47 x 18 đ, 52 x 30đ, 53 x 5 đ, 54 x 5 đ, 57 x 30đ, 60 x 15 đ, 62 x 12 đ, 65 x 5 đ, 67 x 5 đ, 68 x 20đ, 69 x 60đ, 70 x 30đ, 71 x 22đ, 75 x 30đ, 79 x 54đ, 81 x 25đ, 82 x 20đ, 86 x 20đ, 87 x 20đ, 89 x 10đ, 91 x 5đ, 96 x 95đ.
Tổng tiền đánh bạc tờ số 1 là 1.991.000đ.
Tờ số 2 gồm: Lô 17 x 100đ, 51 x 75đ, 95 x 75đ, (16,61) x 5đ, (04,40) x 10đ, 10 x 20đ, 21 x 30đ, Càng 001x 100đ, hệ 14 x 10đ, hệ 15 x10đ; hệ 78 x 20đ; đề 50,53,59 x 60đ; 57,52 x 70đ; 70,72,73,74,75,77,78,79 x 70đ; 51,71,76 x 100đ, 14,41 x 45 đ; 69 x 500 đ. Tương ứng với số tiền 9.302.000đ.
- Ngoài ra Lê Thị H còn bán các số lô, số đề được ghi trên phiếu ghi đánh số 01 gồm các số: Lô (13, 31, 36,63, 11, 66, 28, 82, 12, 21, 47, 74) x 10đ, đề (56, 65)x 5đ, (01, 10)x 10đ, (08, 80, 18,81, 79, 97)x 5đ, Đề đầu 4 (10 số ) x 5đ; Đề đít 9 (10 số) x 5đ. Tổng là 120 điểm lô và 160 điểm đề tương ứng số tiền 2.890.000đ.
Như vậy, tổng số tiền H đã bán số lô số đề được tập hợp trong bảng đề và phiếu ghi đề và phải chịu trách nhiệm hình sự là 14.405.000 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm linh năm ngàn đồng).
Về hình thức đánh bạc mua bán số lô, số đề Lê Thị H khai nhận như sau: Dựa vào kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào lúc 18h15 phút hàng ngày, đồng thời so sánh với hai số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến hết giải 7.
- Về số đề mỗi điểm đề được tính từ 720 đồng đến 1.000 đồng, nếu khách chơi có số trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người bán phải trả cho người mua số tiền gấp 70 lần so với số điểm người mua đã mua.
- Về số lô: Mỗi điểm lô được tính từ 21.700 đồng đến 23.000 đồng, người mua có số trùng với 02 số cuối của tất cả các giải (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì cứ mỗi điểm lô người mua được trúng số tiền 80.000 đồng. Nếu có hai cặp số trùng nhau thì hưởng gấp đôi, 3 cặp số trùng nhau thì hưởng gấp ba.
- Về lô xiên: Mỗi điểm lô xiên (từ xiên 2 đến xiên 4) được tính từ 7.500 đồng đến 10.000đ, người mua chọn hai cặp số bất kỳ gọi là xiên 2; 3 cặp số gọi là xiên 3…; nếu người mua trúng xiên 2 được ăn gấp 12 lần, tương tự xiên 3 nếu trúng ăn gấp 40 lần, xiên 4 nếu trúng ăn gấp 100 lần.
Tại cơ quan điều tra, Lê Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 241/CTr-VKS, ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Thị Hường về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hphạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Lê Thị H từ 12 tháng đến 15 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo có đơn đề nghị miễn hình phạt bổ sung vì hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền.
Và đề nghị xử lý vật chứng.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị H thừa nhận:
Lợi dụng kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc, chiều ngày 13/11/2021, Lê Thị Hường đã trực tiếp mua, bán số lô, số đề với Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị O và một số người không xác định tên, tuổi, địa chỉ. Tổng số tiền Lê Thị H đánh bạc vào chiều ngày 13/11/2021 với các đối tượng mua số lô, số đề là 14.405.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo đánh bạc trái phép với hình thức ghi số lô, số đề cho khách có tính chất được thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật cấm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác do đó cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với Nguyễn Thị O và Nguyễn Thị L qua xác minh xác định chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi “ Đánh bạc” hay “ Tổ chức đánh bạc”, số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đồng. Do đó chưa đủ căn cứ để cấu thành tội “Đánh bạc”, Cơ quan CSĐT chuyển hành vi của các đối tượng này đến Công an thành phố Thanh Hóa để xử phạt hành chính về hành vi mua, bán số lô, số đề. Ngày 26/8/2022, Công an thành phố Thanh Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt tiền đối với các đối tượng này là đúng quy định của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có bố đẻ và mẹ đẻ tham gia cách mạng và được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tặng Bằng khen nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo - Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, xin miễn hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Tổng số tiền Lê Thị H đánh bạc vào chiều ngày 13/11/2021 với các đối tượng mua số lô, số đề là 14.405.000 đồng nhưng Cơ quan điều tra mới thu giữ 10.000.000đ, do đó phải truy thu tiếp số tiền 4.405.000 đồng mà bị cáo đã ghi đề cho các đối tượng để sung công quỹ nhà nước.
Số tiền 10.000.000đ thu giữ là tiền các đối tượng dùng để đánh bạc do đó cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước. Đối với 02 điện thoại di động là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu bán sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Lê Thị Hsố tiền 4.405.000đ (Bốn triệu, bốn trăm linh năm ngàn đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 10.000.000đ (Mười triệu đồng) đã nộp vào tài khoản 3949 của Chi cục Thi hành án dân sự TP Thanh Hóa tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.
Tịch thu bán, nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động đựng trong Một phong bì niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa.
Các vật chứng và tài sản hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 186/THA/2022 ngày 06/9/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá và Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 21; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 362 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14. Bị cáo Lê Thị Hường phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND TP H; - Công an TP H; - Chi cục THADS TP H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Trương Thị Anh |