vanban.org

Bản án 284/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ong Thị H và Đào L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ong Thị H, Đào L phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ong Thị H 321 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ong Thị H và Đào L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 284/2022/HS-PT
Ngày 29 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Luông

Ông Lê Sỹ Trứ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 261/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo Ong Thị H và Đào L. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 191/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Ong Thị H, sinh năm 1985 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: khóm, phường, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký tạm trú: tổ 1, khu phố, phường, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ong Văn Dvà bà Thạch Thị V (Thạch Thị S V); có chồng và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Đào L, sinh năm 1984 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: số 3, ấp, xã Th, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký tạm trú: khu phố K, phường K, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Nh và bà Lâm Thị Ng; có vợ, chưa có con, tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 26/6/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/5/2018, bị Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định số 345/QĐ-XPVPHC xử phạt 1.500.000 đồng đối với hành vi Đánh bạc; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người bào chữa cho bị cáo Ong Thị H: Ông Cao Ngọc Lộc – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 05 bị cáo do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Thị Kim D, Huỳnh Thị Sà R, Đào L, Trần Kim T, Kiêm Thị D1, Nguyễn Việt P, Ong Thị H, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Sơn M và Lý N có mối quan hệ là bạn với nhau.

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/7/2021, T đi bộ đến phòng số 9A của Hà, nhà trọ Bùi Văn Uyên, thuộc khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (do H thuê để ở) để chơi. Khi đi đến phòng trọ của H thì T gặp H, lúc này H rủ T đi đến phòng số 107 của D, nhà trọ Lan Anh, thuộc khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (do D thuê để ở và bán quán tạp hóa) để chơi, Hà đồng ý. Khi đi đến phòng số 107 nhà trọ Lan Anh thì H và T gặp Minh đang ngồi uống nước phía trước phòng số 107. Tại đây, H rủ Minh, T chơi đánh bài binh 06 lá thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng thì Minh, T đồng ý. Sau đó, Hà nói D cho H, Minh và T tham gia chơi đánh bài binh 06 lá thắng thua bằng tiền trong phòng số 107, trong quá trình chơi nếu ai thắng sẽ đưa tiền xâu cho D, thì D đồng ý. Lúc này, Minh lấy 01 bộ bài tây 52 lá có sẵn ở trong phòng số 107 và cùng với H, T tham gia chơi, trong quá trình chơi thì Minh là người làm cái. Sau đó, lần lượt có R, Lộc, D1, P, Thu, V, Nam và 01 số người (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến quán của D để uống nước và thấy bên trong phòng trọ của D có đánh bài nên vào tham gia chơi cùng, khi Nam vào tham gia chơi đánh bạc thì Nam là người làm cái thay cho Minh. Trong quá trình chơi Minh đưa tiền xâu cho D được 02 lần, mỗi lần là 50.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường Khánh Bình T hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tại phòng trọ của D thuộc khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Huỳnh Thị Sà R, Đào L, Trần Kim T, Kiêm Thị D1, Nguyễn Việt P, Ong Thị H, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Sơn M và Lý N đang đánh bạc thắng thua bằng tiền, riêng Nam và 01 số người không rõ nhân thân bỏ chạy thoát, còn D đang ở phía trước phòng số 107, Công an phường Khánh Bình đưa tất cả về trụ sở Công an phường Khánh Bình để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ tại chiếu bạc số tiền tang 8.600.000 đồng, 02 bộ bài tây đã qua sử dụng. Ngoài ra, Công an phường Khánh Bình còn T hành tạm giữ:

- 01 chứng minh nhân dân tên Lý Thị Nghĩa, 01 sổ hộ khẩu mang tên Lý N do Lý Thị Nghĩa giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Huỳnh Thị Sà R do Huỳnh Thị Sà R giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Việt P, 01 điện thoại di động hiệu Vivo do Nguyễn Việt P giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Sơn Thị Th, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen, số tiền 3.500.000 đồng do Sơn Thị Th giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Ong Thị H, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng do Ong Thị H giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Sơn M, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen xanh, số tiền 10.500.000 đồng do Sơn M giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Lý Thị V, số tiền 80.000 đồng do Lý Thị V giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân bản sao tên Kiêm Thị D1, số tiền 110.000 đồng do Kiêm Thị D1 giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Quách Thị Kim D, 01 giấy khai sinh bản sao tên Lý Nhã, số tiền 100.000 đồng do Quách Thị Kim D giao nộp;

- 01 chứng minh nhân dân tên Đào L, 01 điện thoại di động màu đỏ, số tiền 11.000.000 đồng do Đào L giao nộp;

- 01 sổ hộ khẩu mang tên Trần Kim T, số tiền 200.000 đồng do Trần Kim T giao nộp;

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận cụ thể như sau:

- Quách Thị Kim D khai: mở tiệm tạp hóa và bán nước tại phòng trọ thuộc khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ngày 01/7/2021, D đã sử dụng phòng trọ của mình để cho Huỳnh Thị Sà R, Đào L, Trần Kim T, Kiêm Thị D1, Nguyễn Việt P, Ong Thị H, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Sơn M, Lý N và 01 số đối tượng (không rõ nhân thân) tham gia chơi đánh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu. Số tiền xâu D thu được là 100.000 đồng.

- Ong Thị H khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, H mang theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt H thua hết số tiền 500.000 đồng.

- Sơn M khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, Minh mang theo số tiền 10.500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt Minh thắng số tiền 100.000 đồng (số tiền này Minh đã đưa cho D) bị thu giữ trên người số tiền 10.500.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Lý N khai: sau khi thực hiện hành vi phạm tội Lý N đã bỏ trốn, đến ngày 13/10/2021, Lý N đến Công an thị xã Tân Uyên khai nhận: Tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, Nam mang theo số tiền 1.700.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi Công an bắt quả tang, Nam thắng khoảng 5.500.000 đồng và ném hết tiền vào chiếu bạc.

- Đào L khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, Lộc mang theo số tiền 12.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt Lộc thua số tiền 1.000.000 đồng bị thu giữ trên người số tiền 11.000.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Sơn Thị Th khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, Thu mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt Thu thắng số tiền 600.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc là 100.000 đồng, bị thu giữ trong người số tiền 3.500.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Lý Thị V khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, V mang theo số tiền 1.580.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt V thắng số tiền 4.000.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc 5.500.000 đồng, bị thu giữ trong người số tiền 80.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Kiêm Thị D1 khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, D1 mang theo số tiền 510.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt D1 thua số tiền 400.000 đồng bị thu giữ trên người số tiền 110.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Nguyễn Việt P khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, P mang theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt Lộc thua hết số tiền 500.000 đồng.

- Trần Kim T khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, T mang theo số tiền 350.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt T thua số tiền 150.000 đồng bị thu giữ trên người số tiền 200.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.

- Huỳnh Thị Sà R khai: tham gia đánh bạc tại phòng trọ của D, R mang theo số tiền 200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt R thua hết số tiền 200.000 đồng.

Quá trình điều tra ngày 10/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ban hành quyết định xử lý vật chứng số 20 và trả lại cho:

- Sơn M: 01 chứng minh nhân dân tên Sơn M, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen xanh.

- Trần Kim T: 01 sổ hộ khẩu mang tên Trần Kim T.

- Ong Thị H: 01 chứng minh nhân dân tên Ong Thị H, 01 di động hiệu Iphone màu vàng.

- Sơn Thị Th: 01 chứng minh nhân dân tên Sơn Thị Th, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen.

- Lý Thị V: 01 chứng minh nhân dân tên Lý Thị V.

- Nguyễn Việt P: 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Việt P, 01 điện thoại di động hiệu Vivo.

- Đào L: 01 chứng minh nhân dân tên Đào L, 01 điện thoại di động màu đỏ.

- Lý Thị Nghĩa: 01 chứng minh nhân dân tên Lý Thị Nghĩa, 01 sổ hộ khẩu mang tên Lý N.

- Huỳnh Thị Sà R: 01 chứng minh nhân dân tên Huỳnh Thị Sà R.

- Quách Thị Kim D: 01 chứng minh nhân dân tên Quách Thị Kim D.

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của các bị cáo về số tiền bị tạm giữ dùng vào mục đích đánh bạc khi bị bắt quả tang vào ngày 01/7/2021 tại phòng trọ của Quách Thị Kim D, xác định tổng số tiền các bị cáo Huỳnh Thị Sà R, Đào L, Trần Kim T, Kiêm Thị D1, Nguyễn Việt P, Ong Thị H, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Sơn M và Lý N sử dụng để đánh bạc là 34.090.000 đồng.

Quá trình chơi đánh bạc tại phòng trọ của Quách Thị Kim D có một số đối tượng không rõ nhân thân đến chơi và nghỉ trước khi lực lượng Công an đến bắt quả tang, quá trình điều tra xác minh đến nay chưa có xác định được nhân thân các đối tượng này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 191/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Ong Thị H, Đào L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Ong Thị H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đào L 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo bị cáo Quách Thị Kim D 01 (một) năm tù; bị cáo Lý N 09 (chín) tháng tù; bị cáo Kiêm Thị D1 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Sơn M 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng; xử phạt các bị cáo Sơn Thị Th 30.000.000 đồng; xử phạt các bị cáo Lý Thị V; Trần Kim T; Nguyễn Việt P; Huỳnh Thị Sà R mỗi bị cáo số tiền 25.000.0000 đồng; tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 và ngày 07 tháng 9 năm 2022, các bị cáo Ong Thị H, Đào L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Ong Thị H, Đào L có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo, đơn kháng cáo trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xét xử phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Các bị cáo H, Lộc là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khmer), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng đối với các bị cáo là thiếu sót.

Trong vụ án này, các bị cáo có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh 06 lá tại phòng trọ của bị cáo Quách Thị Kim D, tổng số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 34.090.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với kháng cáo của bị cáo Ong Thị H: bị cáo H là người rủ rê, khởi xướng việc đánh bạc nên việc cho bị cáo hưởng án treo là không đảm bảo tính răn đe, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống đối với tội phạm xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng tại địa phương, nhất là tội phạm đánh bạc đang diễn ra ngày càng nhiều như hiện nay;

Đối với kháng cáo của bị cáo Đào L: số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác (12.000.000 đồng/ tổng số tiền 34.090.000 đồng); bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Nhận thấy, mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên không có cơ sở xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Ong Thị H, Đào L.

Người bào chữa cho bị cáo Ong Thị H trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo, trong vụ án này bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc không lớn, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 34.090.000 đồng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết về pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng, bị cáo có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình và nuôi con nhỏ cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo H.

Bị cáo H thống nhất với phần trình bày của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.

Bị cáo Lộc không tham gia tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để có cơ hội chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định: ngày 01/7/2021, tại khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Quách Thị Kim D sử dụng phòng trọ của mình để cho các bị cáo Ong Thị H, Sơn M, Lý N, Đào L, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Kiêm Thị D1, Trần Kim T, Nguyễn Việt P, Huỳnh Thị Sà R đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh 06 lá để thu tiền xâu. Tổng số tiền mà Ong Thị H, Sơn M, Lý N, Đào L, Sơn Thị Th, Lý Thị V, Kiêm Thị D1, Trần Kim T, Nguyễn Việt P, Huỳnh Thị Sà R sử dụng để đánh bạc là 34.090.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh 06 lá được thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo Ong Thị H và Đào L kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hương án treo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Lộc cung cấp Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; Giấy xác nhận gia đình có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Giấy khen; Huân chương kháng chiến hạng nhì, bản photo Huy hiệu 45 năm tuổi đảng cho ông Lâm Văn Đẹt (Đẹt là ông ngoại của bị cáo Lộc); bị cáo H cung cấp giấy xác nhận gia đình có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất cho ông ngoại tên Thạch Som và Giấy xác nhận hộ rất khó khăn về kinh tế, các bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khmer) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy trong vụ án này bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia vào việc đánh bạc; bị cáo Lộc có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản vào năm 2013, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2018 mức hình phạt 09 (chín) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo Ong Thị H, Đào L là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Vì vậy, kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp.

Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo H là không phù hợp nên không được chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ong Thị H và Đào L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ong Thị H, Đào L phạm tội “Đánh bạc”.

3. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Ong Thị H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đào L 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Ong Thị H, Đào L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ