vanban.org

Bản án 283/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Khánh Nh với anh Phùng Đoài Kh.

2/Về con chung: Không có. 3/ Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ chung: Chưa giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Khánh N - Phùng Đoài K"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Khánh Nh với anh Phùng Đoài Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 283/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/6/2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đại Huy 2. Ông Phùng Xuân Phong

- Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/6/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2022 về việc tranh chấp : “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXX-ST ngày 27 tháng 05 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2022/QĐHPT ngày 13/6/2022 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh năm 1984 Địa chỉ: Thôn 4, xã ĐM, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

+ Bị đơn: Anh Phùng Đoài Kh, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn Ngọc Nhị, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

( Chị Nh xin vắng mặt anh Kh vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2022, bản tự khai ngày 07/03/2022 chị Nguyễn Thị Khánh Nh trình bày: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh kết hôn với anh Phùng Đoài Kh trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐM, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, ngày 27/08/2012. Sau khi kết hôn, chị Nh và anh Kh về chung sống với nhau cùng gia đình anh Kh tại thôn Ngọc Nhị, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Chị Nh và anh Kh chung sống hạnh phúc với nhau được 06 năm thì đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hòa hợp về tính cách, thường xuyên mâu thuẫn cãi chửi, không chia sẻ, cảm thông được cho nhau, vợ chồng không có con chung, anh Kh có mối quan hệ ngoại tình với người khác, chị Nh và anh Kh đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ cuối năm 2018 cho đến nay. Nay chị Nh xác định tình cảm vợ chồng không còn có nguyện vọng xin được ly hôn anh Kh.

+ Về con chung: Chị Nh xác nhận chị và anh Kh không có con chung.

+ Về Tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ chung : Chị Nh xác nhận không có.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng anh Phùng Đoài Kh đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay anh Phùng Đoài Kh vắng mặt không có lý do. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Phùng Đoài Kh, tống đạt thông báo thụ lý và các giấy triệu tập đương sự, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với anh Phùng Đoài Kh, anh Kh đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không chấp hành pháp luật, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Khánh Nh, anh Phùng Đoài Kh tại xã CL, tại biên bản xác minh ngày 28/03/2022 đối với Ủy ban nhân dân xã CL và Biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2022 của anh Phùng Đoài H (anh trai anh Phùng Đoài Kh) đều cung cấp thông tin: Chị Nh và anh Kh kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐM, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, ngày 27/08/2012. Sau khi kết hôn, chị Nh và anh Kh về chung sống với nhau cùng gia đình anh Kh tại thôn Ngọc Nhị, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Chị Nh và anh Kh chung sống hạnh phúc với nhau được 06 năm thì đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hòa hợp về tính cách, thường xuyên mâu thuẫn cãi chửi, không chia sẻ, cảm thông được cho nhau, vợ chồng không có con chung và đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ cuối năm 2018 cho đến nay, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự, anh Phùng Đoài Kh đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, vụ án không tiến hành hòa giải được. Ngày 27/5/2022, chị Nguyễn Thị Khánh Nh có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do công việc.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì có quan điểm: Việc Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý đơn của chị Nguyễn Thị Khánh Nh là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định tại Điều 171 BLTTDS. Sau khi ra Quyết định xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho đương sự và Viện Kiểm sát đúng thời hạn. Tòa án đã chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS. Về hôn nhân: Chị Nh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, chị Nh xin được ly hôn anh Kh. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Nh, anh Kh đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, do vậy đại diện Viện Kiểm sát căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị HĐXX quyết định cho chị Nguyễn Thị Khánh Nh được ly hôn anh Phùng Đoài Kh. Về con chung: Chị Nh xác nhận không có con chung. Về tài sản chung, riêng, công sức, nợ chung: chị Nh xác nhận không có. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh khởi kiện xin ly hôn anh Phùng Đoài Kh có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn Ngọc Nhị, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Do vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Khánh Nh với anh Phùng Đoài Kh là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, ngày 27/08/2012. Sau khi kết hôn, chị Nh, anh Kh về chung sống với nhau tại nhà anh Kh tại thôn Ngọc Nhị, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hòa hợp về tính cách, thường xuyên mâu thuẫn cãi chửi, không chia sẻ, cảm thông được cho nhau; Do vậy chị Nh và anh Kh đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay. Chị Nh xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh Kh. Đối với anh Phùng Đoài Kh, tại phiên tòa hôm nay anh Kh vắng mặt không lý do, trong quá trình giải quyết vụ án anh Kh đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Kh vẫn vắng mặt không lý do, do vậy anh Kh tự đánh mất, khước từ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ. Xét nguyện vọng xin ly hôn của chị Nh là chính đáng, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Nh và anh Kh đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, cuộc sống chung của chị Nh và anh Kh không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh, cho chị Nguyễn Thị Khánh Nh được ly hôn anh Phùng Đoài Kh là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: Chị Nh xác nhận không có con chung.

Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ chung: chị Nh xác nhận không có. Anh Phùng Đoài Kh chưa có lời trình bày tại Tòa án nên HĐXX xem xét giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 35, 39, 271, 273 của BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 26/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1/Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Khánh Nh với anh Phùng Đoài Kh. Cho chị Nguyễn Thị Khánh Nh được ly hôn anh Phùng Đoài Kh.

2/Về con chung: Không có.

3/ Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ chung: Chưa giải quyết

4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Nh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0060045 ngày 07/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

5/Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Khánh Nh và anh Phùng Đoài Kh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự „

Cỡ chữ