- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Quang D - Nguyễn Thị Hằng N"
- Tòa quyết gì? VKSND Khu vực 1- Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 282/2026/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 3 năm 2026 V/v “Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chung 2. Ông Trần Xuân Thưởng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hải Yến-Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 177/TLST-HNGĐ ngày 02/3/2026 về tranh chấp xác nhận cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026 giữa: Nguyên đơn: Ông Trần Quang D, sinh năm 1955. CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 25/4/2021. Nơi thường trú: Thôn T - Xã Đ - Tỉnh Hưng Yên. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1985. CC: 040185002971, cấp ngày 06/10/2025. Nơi thường trú: Số G ngõ A L, Tổ E phường T, Hà Nội.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 02 năm 2026 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Trần Quang D trình bày: Ông là bố đẻ của anh Trần Đình T, sinh ngày 25/4/1980. Anh T đã chết tháng 01/2026. Khoảng đầu năm 2025, anh Trần Đình T và chị Nguyễn Thị Hằng N chung sống với nhau, sau một thời gian chung sống thì anh Trần Đình T phát hiện ra bệnh hiểm nghèo và chị N cũng bắt đầu mang thai. Trong thời gian anh Trọng chữa bệnh nên anh T và chị N chưa tổ chức lễ cưới và chưa đăng ký kết hôn với nhau. Ngày 22/11/2025 chị N sinh 01 bé trai tại bệnh viện P. Gia đình tạm đặt tên cháu bé là Trần Nguyên L. Ngày 01/12/2025 gia đình ông có cho cháu bé trai Trần Nguyên L và anh Trần Đình T đi giám định ADN và nhận kết quả phân tích ADN vào ngày 01/12/2025 trả lời có quan hệ huyết thống Cha - con. Ngày 07/01/2026 anh Trần Đình T chết do bệnh hiểm nghèo. Đến nay, gia đình ông đi làm khai sinh cho cháu mong muốn có họ tên bố cháu là Trần Đình T trong giấy khai sinh, nhưng chưa làm giấy khai sinh được. Ông đề nghị Tòa án giám định ADN giữa ông với cháu bé Trần Nguyên L để xác định ông có quan hệ huyết thống với cháu bé có tên là Trần Nguyên L. Ông đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh Trần Đình T là cha của cháu Trần Nguyên L để gia đình ông làm giấy khai sinh cho cháu Trần Nguyên L. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác. Do già yếu và đường xa nên ông đề nghị Toà án khi xét xử vụ án, cho ông được xin xử vắng mặt. Tại tự bản khai bị đơn là chị Nguyễn Thị Hằng N aăngằng H trình bày: Chị và anh Trần Đình T có quan hệ tình cảm, nhưng chưa đăng ký kết hôn. Do anh T phát hiện ra bệnh hiểm nghèo nên đã mất ngày 07 tháng 01/2026. Ngày 22/11/2025 chị sinh con tại Bệnh viện P, theo Giấy chứng sinh mã số GCS: 28238.GCS.01904.25 ngày 22/11/2025 của Bệnh viện P, chị tạm gọi tên cháu là Trần Nguyên L. Sau khi chị sinh con, gia đình anh T có làm xét nghiệm ADN giữa anh T và cháu bé có tên dự kiến là Trần Nguyên L và nhận kết quả phân tích ADN vào ngày 01/12/2025 trả lời có quan hệ huyết thống bố - con. Đến nay, con chị đi làm khai sinh cho cháu mong muốn có họ tên bố cháu là Trần Nguyên L trong giấy khai sinh, nhưng chưa làm giấy khai sinh được. Nay ông D là bố của anh T khởi kiện đối với chị để xác định cha cho cháu bé. Chị đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà: Ông D có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị N vẫn giữ yêu cầu như đã trình bày. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định anh Trần Đình T là cha đẻ của cháu bé có tên tạm gọi là Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xác nhận cha cho con của nguyên đơn. Xác định cháu Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025 là con của anh Trần Đình T. Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về việc vắng mặt đương sự: Ông Trần Quang D có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự. [2]. Về nội dung: Ông Trần Quang D đề nghị Toà án xác nhận anh Trần Đình T là cha của cháu Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. Xét yêu cầu của ông D, nhận thấy: Anh Trần Đình T và chị Nguyễn Thị Hằng N chung sống với nhau nhưng chưa đăng ký kết hôn, do anh T bị bệnh hiểm nghèo nên chết ngày 07/01/2026. Ngày 22/11/2025 chị N sinh con tại Bệnh Viện P và được Bệnh viện cấp Giấy chứng sinh mã số GCS: 28238.GCS.01904.25 nhưng chị N chưa đi làm khai sinh cho con. Chị N tạm đặt tên cho con là Trần Nguyên L. Gia đình anh T đã làm giám định ADN giữa anh T và cháu L kết quả giám định anh T có quan hệ huyết thống cha- con với cháu L. Nay ông D là bố của anh T đề nghị Tòa án xác định anh T là cha đẻ của cháu L. Do cháu L là cháu trai nên Tòa án đã trưng cầu giám định ADN giữa ông Trần Quang D (bố đẻ anh T) với cháu L. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Trung tâm P1 kết luận: Ông Trần Quang D và cháu Trần Nguyên L có quan hệ huyết thống theo dòng cha. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông D về việc xin xác nhận anh Trần Bình T1 là cha của cháu Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. Xác nhận anh Trần Đình T là cha đẻ của cháu bé có tên tạm gọi là Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. Chị N có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục khai sinh cho cháu bé có tên tạm gọi là Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. [3]. Về án phí: Ông D được miễn án phí sơ thẩm. [4]. Về quyền kháng cáo: Chị N có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Ông D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 88, Điều 92, khoản 2 Điều 101, khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng các Điều 28; 144; 147; 227, 228; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử: 1, Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin xác nhận cha cho con của ông Trần Quang D. 2, Xác nhận anh Trần Đình T là cha đẻ của cháu bé có tên tạm gọi là Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. Chị Nguyễn Thị Hằng N có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục khai sinh cho cháu bé có tên tạm gọi là Trần Nguyên L, sinh ngày 22/11/2025. 3, Về án phí: Ông Trần Quang D được miễn án phí sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hằng N có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Ông Trần Quang D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 1- Hà Nội. - Phòng THA DS Khu vực 1- Hà Nội; - TAND TP. Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Lai |