- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Cường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 282/2021/HS-ST Ngày: 29/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Oanh;
- Ông Trần Quốc Sơn;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bảy - Kiểm sát viên; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 299/2021/TLST-HS ngày 05/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2021/QĐXXST-HS ngày 17/11/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn C; Sinh năm: 1986; Giới tính: Nam; HKTT: Xóm Búm 3, xã A, huyện L, tỉnh Hoà Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn D; Con bà: Bùi Thị Kh; Vợ: Bùi Thị H; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có 01 con sinh năm 2013; Trích lục tiền án, tiền sự: Không;
Danh chỉ bản số: 584, lập ngày 03/8/2021, tại Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị tạm gi , tạm giam từ ngày 26/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội;
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/07/2021, tổ công tác Công an phường Phương Canh phối hợp cùng Công an phường Mỹ Đình 2 đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực bến xe Mỹ Đình, phát hiện Bùi Văn C đứng tại vỉa hè trước số nhà 2, đường Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn. Yêu cầu kiểm tra, phát hiện bên trong cạp quần đang mặc của C cất giấu 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chất bột màu trắng. Tại chỗ, Bùi Văn C khai nhận đó là ma tuý Heroine C mang theo để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Bùi Văn C cùng vật chứng về trụ sở Công an để xác minh, làm rõ.
Vật chứng tạm gi , gồm có: 01 (một) gói giấy màu vàng, kích thước 01 x 01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) điện thoại di động in ch MI, màu đen bạc, gắn sim số 0366.530.028.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2021, Bùi Văn C có hẹn gặp bạn mới quen qua mạng xã hội Facebook có tài khoản là “Hồng Vân” (C chưa gặp bao giờ) tại khu vực bến xe Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nên C đi bộ từ nhà trọ của mình trong ngõ 190, đường Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội ra đầu ngõ 190 đường Lĩnh Nam, để đi đến điểm hẹn. Do là đối tượng nghiện ma túy nên khi gặp một người tên Hiệp (không xác định được nhân thân), C đã hỏi mua được 500.000 đồng ma tuý Heroine với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, C cất giấu vào cạp quần phía trước bên trái rồi bắt xe ôm (không nhớ BKS) đến khu vực bến xe Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để gặp bạn. Khi đến đường Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, trong khi C chờ bạn đón thì bị tổ công tác Công an phường Phương Canh phối hợp cùng Công an phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Kết luận giám định số: 6040/KLGĐ-PC09 ngày 02/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận:“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,296 gam./.”
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Đối với đối tượng tên Hiệp là người bán ma tuý cho C (như C khai), quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Bản Cáo trạng số: 288/CT-VKSNTL ngày 04/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, truy tố bị cáo Bùi Văn C về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Bùi Văn C và kết luận: Gi quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn C về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo C từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng tr : 01 (Một) phong bì niêm phong, có ch ký của bị cáo C và giám định viên; Trả lại bị cáo C 01 (Một) điện thoại di động in ch MI, màu đen bạc, lắp sim số 0366.530.028, tạm gi của bị cáo nhưng không phải là vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/07/2021, tại khu vực vỉa hè trước số nhà 2, đường Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Bùi Văn C đã có hành vi tàng tr trái phép 0,296 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Phương Canh phối hợp cùng Công an phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn C về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp với pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nh ng quy định của Nhà Nước về chế độ quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo tàng tr trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi tàng tr trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý cất giấu ma túy để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo C có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo C là nghiêm trọng, được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng ma túy bị cáo tàng tr là 0,296 gam Heroine, cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo C từ 18 tháng đến 24 tháng tù, là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoanh hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt của xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng tr : 01 (Một) phong bì niêm phong, có ch ký của bị cáo C và giám định viên; Trả lại bị cáo C 01 (Một) điện thoại di động in ch MI, màu đen bạc, lắp sim số 0366.530.028, tạm gi của bị cáo nhưng không phải là vật chứng, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2021.
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong, có ch ký của bị cáo C và giám định viên; Trả lại bị cáo C 01 (Một) điện thoại di động in ch MI, màu đen bạc, lắp sim số 0366.530.028 (Có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 29, đề ngày 04/11/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội)
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu H S.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu H S.
Đỗ Thị Lệ Thủy [ơ Nơi nhận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS. [ơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. ] THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS. [ơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. ] THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
| Nơi nhận: - Lưu HS. hình phạt của Bản án số: 18/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án, về tội: “Cố ý gây thương tích”, nay chuyển thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2021 (Được trừ thời gian tạm giam của Bản án trước từ ngày 17/7/2017 đến ngày 06/02/2018). | Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Cao Thế 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với |