- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung H và đồng phạm bị truy tố và xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Sủ dụng trái p…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 281/2026/HS-ST Ngày: 14 - 8 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Cần;
2. Bà Võ Thị Hồng Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 305/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2026/HSST-QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2026 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Trung H, sinh ngày 27/11/2002 tại Cà Mau, CCCD số 09620201xxxx; thường trú: Ấp x, xã LP, Thành phố CTh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn V, không rõ năm sinh và bà Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh năm: 1972; bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Như X, sinh năm 2004 và 01 con sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 15/8/2025, thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 15/8/2025; đến ngày 24/8/2025 bị khởi tố bị can và tạm giam tại Cơ sở 1 - Trại tạm giam Bố Lá, Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Hà Anh T, sinh ngày 06/7/2007 tại Đắk Lắk, CCCD số 06620700xxxx; thường trú: Thôn x, xã CPr, tỉnh ĐL; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Vũ D, sinh năm 1986 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không;
Ngày 13/8/2025, thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 16/8/2025 bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ đến ngày 24/8/2025 bị khởi tố bị can và tạm giam tại Cơ sở 1 - Trại tạm giam Bố Lá, Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Lê Thành Th, sinh ngày 10/3/1995 tại Đắk Lắk, CCCD số 06609501xxxx; thường trú: Thôn x, xã HP, tỉnh ĐL; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S, sinh năm 1953 và bà Trần Thị Tố L, sinh năm 1953; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 11/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 57/QĐ-TA ngày 11/4/2023, chấp hành xong ngày 12/8/2024.
Ngày 10/8/2025, bị cáo “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 16/8/2025 bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ đến ngày 24/8/2025 bị khởi tố bị can và tạm giam tại Cơ sở 1 - Trại tạm giam Bố Lá, Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Như X, sinh ngày 10/4/2004, CCCD số 09630400xxxx; thường trú: Ấp x, xã THB, tỉnh CM; có mặt.
Người làm chứng: Ông Lê Công T1, bà Phan Ngọc H1, ông Nguyễn Thanh Tuấn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thành Th là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Hòa Phú, tỉnh Đắk Lắk) với thời gian quản lý sau cai nghiện từ ngày 12/8/2024 đến ngày 12/8/2026. Th thuê phòng số 203 của nhà nghỉ Bình Minh tại khu phố 1, phường Bình Cơ, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/2025 để ở một mình.
Lúc 00 giờ 10 phút ngày 15/8/2025, Công an phường Bình Cơ, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức kiểm tra hành chính nhà nghỉ Bình Minh. Khi kiểm tra phòng số 203 do Th thuê ở thấy Th có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường mời Th về trụ sở làm việc và xét nghiệm chất ma túy, kết quả Th dương tính với ma túy Methamphetamine. Th khai nhận trước đó đã 04 lần mua ma túy của Nguyễn Trung H để sử dụng.
Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, tại đoạn đường Khánh Bình 45, khu phố Phước Chánh, phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh, khi lực lượng Công an cho Lê Thành Th xác định vị trí đã mua ma túy thì phát hiện Nguyễn Trung H đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen biển số 69D1-513.xx chạy đến có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của H có 01 gói nylon miệng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. H khai nhận đây là ma túy đá H mua của người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng để mang về bán lại cho người khác. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trung H cùng vật chứng.
Quá trình điều tra, H khai nhận là người nghiện ma túy và thường xuyên bán ma túy đá. H mua ma túy đá của người thanh niên (không rõ lai lịch) đem về chia nhỏ để bán cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng ma túy, cụ thể:
- H đã 01 lần bán ma túy đá cho Lê Thành Th để sử dụng với giá 300.000 đồng vào ngày 15/7/2025 tại phường Bình Cơ, Thành phố Hồ Chí Minh; 01 lần bán ma túy đá cho Th để sử dụng với giá 300.000 đồng vào 22/7/2025 và 02 lần bán ma túy đá cho Th để sử dụng với giá 400.000 đồng/ 01 lần vào các ngày 01/8/2025, 10/8/2025 tại phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- H đã 01 lần bán ma túy đá cho Lê Công Tuấn với giá 6.400.000 đồng vào ngày 01/8/2025 tại phường Vĩnh Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- H đã 01 lần bán ma túy đá cho Phan Ngọc H1, sinh ngày 19/5/2009 với giá 300.000 đồng vào ngày 13/8/2025 tại phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Trung H về việc đã bán ma túy cho Phan Ngọc H1, Công an phường Bình Cơ đã triệu tập H1 làm việc, H1 khai nhận đã cùng với Hà Anh T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Phan Ngọc H1 và Hà Anh T quen biết qua mạng xã hội Facebook. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/8/2025, H1 sử dụng tài khoản Facebook tên “Hoàng H” nhắn tin rủ T góp tiền mua ma túy đá về sử dụng thì T đồng ý. T đi đến quán cà phê (không rõ tên) tại phường Tân Uyên, Thành phố Hồ Chí Minh gặp H1. Tại đây, H1 và Tuấn mỗi người góp 150.000 đồng để mua ma túy đá (tên khoa học là Methamphetamine) về sử dụng chung. Sau đó, H1 liên hệ với Nguyễn Trung H hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng và hẹn gặp giao ma túy tại khu vực vòng xoay Kim Hằng, phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. H1 và T cùng đi đến khu vực vòng xoay Kim Hằng để H1 nhận ma túy và trả cho H 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy, H1 và T quay về quán cà phê để sử dụng. H1 đi vào nhà vệ sinh của quán để lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng đã mang theo trước đó, đổ ma túy đá vào bộ dụng cụ, sử dụng hộp quẹt đốt ma túy rồi H1 và T lần lượt sử dụng hết lượng ma túy đã mua.
Công an phường Bình Cơ triệu tập H1 và T đến trụ sở làm việc, đồng thời xét nghiệm ma túy cho kết quả H1 và T dương tính với ma túy Methamphetamine. Quá trình làm việc, H1 và T khai nhận hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/8/2025.
Ngày 12/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định tách vụ án hình sự số A11027 ngày 12/5/2026 đối với bị can Phan Ngọc H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự do bị can là người chưa thành niên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng của Nguyễn Trung H.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím của Nguyễn Trung H.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ của Lê Thành Th.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không nhãn mác được gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh được uốn cong dạng phễu của Nguyễn Trung H.
Tại Bản kết luận giám định số 3455 ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,1229 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 3456 ngày 23/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: mẫu nước tiểu của Lê Thành Th, gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển số 69D1-513.xx thu giữ của Nguyễn Trung H, quá trình điều tra xác định xe này do bà Huỳnh Thị Như X đăng ký chủ sở hữu. Bà Ý khai đã cho Nguyễn Trung H mượn xe sử dụng nhưng không biết việc H sử dụng xe để đi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại xe mô tô trên cho bà Ý.
Cáo trạng số 97/CT-VKSKV17 ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh truy tố:
- Bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Hà Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Lê Thành Th về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Anh T từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành Th từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung H;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không nhãn mác được gắn 01 ống hút và 01 ống thuỷ tinh được uốn cong dạng phễu thu giữ của Nguyễn Trung H;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím của Nguyễn Trung H.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ của Lê Thành Th.
- Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp số tiền 8.100.000 đồng (Tám triệu một trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Trung H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau.
Đối với hành vi của Phan Ngọc H1 cùng góp tiền với Hà Anh T mỗi người 150.000 đồng vào ngày 13/8/2025 để mua ma túy về sử dụng; bị cáo Phan Ngọc H1 đã bị Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Bản án số 237/2026/HSST ngày 15/7/2026.
Các bị cáo không trình bày lời bào chữa.
Nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để phấn đấu cải tạo tốt, sớm hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai của các bị cáo Nguyễn Trung H, Hà Anh T và Lê Thành Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; biên bản kiểm tra, trích xuất điện thoại; biên bản xét nghiệm; biên bản khám xét và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Vào các ngày 15/7/2025, 22/7/2025, 01/8/2025 và 10/8/2025 bị cáo Nguyễn Trung H đã 04 lần có hành vi bán ma túy đá cho bị cáo Lê Thành Th để sử dụng. Ngày 01/8/2025 bán ma túy cho Lê Công T1 01 lần và ngày 13/8/2025 bán ma túy cho Phan Thị Ngọc H1 01 lần.
Ngày 13/8/2025, bị cáo Hà Anh T và Phan Ngọc H1 mỗi người góp 150.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung. Sau đó, H1 liên hệ mua túy đá của bị cáo Nguyễn Trung H rồi mang về quán cà phê thuộc khu phố 7, phường Tân Uyên, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng cùng với bị cáo T. H1 cung cấp bộ dụng cụ để H1 và T cùng sử dụng. Tại thời điểm xảy ra tội phạm, Phan Ngọc H1 được 16 tuổi 02 tháng 25 ngày.
Bị cáo Lê Thành Th là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 14/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Hòa Phú, tỉnh Đắk Lắk) với thời gian quản lý sau cai nghiện từ ngày 12/8/2024 đến ngày 12/8/2026. Trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện, Th đã 04 lần mua ma túy đá của Nguyễn Trung H để sử dụng vào các ngày 15/7/2025, 22/7/2025, 01/8/2025 và 10/8/2025.
Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”;
Hành vi của của cáo Hà Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”;
Hành vi của bị cáo Lê Thành Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.
Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về các tội danh như trên là có căn cứ; đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sử dụng chất ma túy và các chất gây nghiện. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nhưng vì muốn có ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện và kiếm lợi từ việc bán ma túy nên đã bất chấp hậu quả, cố ý phạm tội.
Năm 2023, bị cáo Lê Thành Th đã từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng; là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú với thời hạn từ ngày 12/8/2024 đến 12/8/2026 nhưng bị cáo tiếp tục có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thành Th đã sử dụng trái phép chất ma túy 04 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Thành Th đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội trước của mình mà chưa bị phát hiện, cụ thể: bị cáo tự khai vào các ngày 15/7/2025, 22/7/2025 và 01/8/2025 đã mua ma túy của Nguyễn Trung H để sử dụng một mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị xử phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đối với bị cáo Nguyễn Trung H cần xử phạt hình phạt cao hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung H; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không nhãn mác được gắn 01 ống hút và 01 ống thuỷ tinh được uốn cong dạng phễu thu giữ của Nguyễn Trung H là chất cấm, vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím của Nguyễn Trung H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ của Lê Thành Th; các bị cáo sử dụng để liên hệ mua, bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Trung H đã nhiều lần bán ma túy để thu lợi bất chính số tiền 8.100.000 đồng nên buộc bị cáo phải nộp sung ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển số 69D1-513.xx thu giữ của Nguyễn Trung H, quá trình điều tra xác định xe này do bà Huỳnh Thị Như X đăng ký chủ sở hữu. Bà X khai đây là tài sản riêng của bà trước khi kết hôn với bị cáo Nguyễn Trung H, bà X đã cho H mượn xe nhưng không biết việc H sử dụng xe vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại xe mô tô trên cho bà X là đúng quy định.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Trung H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau là có căn cứ.
Đối với hành vi của Phan Ngọc H1 cùng Hà Anh T ngày 13/8/2025 cùng nhau góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy về sử dụng; bị cáo H1 đã bị Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử lý vật chứng liên quan đến bị cáo tại Bản án số 237/2026/HSST ngày 15/7/2026.
Đối với hành vi của Lê Công T1 đã mua ma túy của bị cáo Nguyễn Trung H ngày 01/8/2025 với số tiền 6.400.000 đồng sau đó phân chia để bán lại cho các người nghiện, hiện Lê Công T1 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 11/8/2025 để xử lý trong một vụ án khác.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
- Bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Bị cáo Hà Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Bị cáo Lê Thành Th phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
2.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Anh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2025.
2.3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành Th 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2025.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số 270/MTPC09 bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Trần Thanh T2, cán bộ niêm phong Nguyễn Thế Huỳnh, Điều tra viên và hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không nhãn mác được gắn 01 ống hút và 01 ống thuỷ tinh được uốn cong dạng phễu.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím (bể lưng, bể camera, không mở được nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ (không lên nguồn, không kiểm tra được bên trong).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh).
- Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp số tiền 8.100.000 đồng (Tám triệu một trăm nghì đồng) thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc các bị cáo Nguyễn Trung H, Hà Anh T và Lê Thành Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh; Ý kiến, xét duyệt của Lãnh đạo trực tiếp: - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... - Kết luận của Lãnh đạo Cơ quan:..................................................................................... ........................................................................................................................................... ........................................................................................................................................... | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp - Ý kiến, phê duyệt của Lãnh đạo phụ trách:…............................................................................. |