vanban.org

Bản án 281/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Lo Văn G 12 (Mười hai) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2024.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Lo Văn G và Giám định viên (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/12/2024 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn). Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Lo Văn G 12 (Mười hai) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
––––––––––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2024/HSST
Ngày 26/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên.

Ông Nguyễn Duy Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tháp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 312/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lo Văn G, sinh năm 1999 tại Nghệ An; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Z, xã CT, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lo Văn X, sinh năm 1976 và con bà: Lo Thị L, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2024; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội, Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 5 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30 ngày 22/9/2024, G thuê xe ô tô taxi đi từ khu vực TL 2, x TM, huyện Sóc Sơn, Hà Nội đến khu vực Quốc lộ 3 thuộc địa phận thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên hỏi mua của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói giấy bên trong chứa ma túy Heroine với giá 150.000 đồng. Mua xong, G giấu ma túy vào túi áo bên trái rồi lên xe ô tô taxi quay về. Khi đi đến địa phận thôn XD, x TM, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, G xuống xe để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an x MP phối hợp với Công an x TM kiểm tra, bắt giữ người cùng tang vật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Lo Văn G kết quả: Phản ứng dương tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 6924/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,110 gam.

Bản cáo trạng số: 303/CT-VKS ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Lo Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai: Bị cáo sử dụng ma túy từ đầu năm 2024. Trưa ngày 22/9/2024, bị cáo đi taxi lên khu vực Phổ Yên, Thái Nguyên mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo gặp người đàn ông lạ mặt, bị cáo hỏi hỏi mua 150.000 đồng được 01 gói ma túy loại Heroine. Sau đó, bị cáo giấu ma túy vào túi áo bên trái rồi đi taxi về. Khi đi đến ng tư thôn XD, xã TM, bị cáo xuống xe để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ. Bị cáo không biết địa chỉ, tên tuổi của người bán ma túy, cũng không nhớ đặc điểm xe taxi mà bị cáo đ thuê. Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn luận tội:

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Lo Văn G mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị cáo và Giám định viên.

Về án phí: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Văn Tuấn trình bày: Về tội danh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điểu 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đ hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sỹ vẻ vang, đồng thời bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12h30 ngày 22/9/2024, G thuê xe taxi lên khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên hỏi mua của một người đàn ông lạ 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,110 gam với giá 150.000 đồng. Mua xong, G giấu ma túy vào túi áo bên trái rồi lên xe ô tô taxi quay về. Khi đi đến địa phận thôn XD, x TM, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, G xuống xe để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bắt giữ. Hành vi của Lo Văn G đ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như nêu trên là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự đ quy định.

Về nhân thân: Tính đến lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời bị cáo đ hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sỹ vẻ vang và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và chính sách của Nhà nước về phòng chống chất ma túy. Tuy nhiên vì lợi ích cá nhân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Đối với ý kiến của ông Nguyễn Văn Tuấn là người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử thấy: Tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, trong vụ án này, Lo Văn G chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì vậy không có cơ sở để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự như đề nghị của ông Nguyễn Văn Tuấn.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo: Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với người lái xe taxi chở bị cáo đi mua ma túy: Do bị cáo không nhớ họ tên, đặc điểm và biển số xe taxi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Xét bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn chuyển theo hồ sơ 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị cáo và Giám định viên. Xét ma túy là vật cấm lưu hành trái phép nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Lo Văn G 12 (Mười hai) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2024.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Lo Văn G và Giám định viên (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/12/2024 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ