vanban.org

Bản án 281/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D (cu Lý) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D (cu Lý) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
T A ÁN NH N N
THÀNH PH H
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2022/HS-ST
Ngày: 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƢ C CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NH N N THÀNH PH H TỈNH T

- Thành ph n H i đ ng x t x s th m g m có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tú

Các H i th m nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và bà Hoàng Hải Yến

- Th ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Tòa án.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph H tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2022/HS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần Ngọc (tên gọi khác: cu Lý), sinh ngày 16 tháng 02 năm 1977 tại Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT: 49 H, phường Đ, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc T, sinh năm 1959 và bà Trần Thị L, sinh năm 1959; vợ: Đoàn Thị Phương L, có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2017; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với bố mẹ, lớn lên đi học đến lớp 4/12 thì nghỉ học. Đến năm 1998 lập gia đình và sống cùng vợ, con tại 49 H, phường Đ, thành phố H cho đến ngày phạm tội.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2022, chuyển tạm giam từ ngày 26/5/2002 cho đến nay. Có mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 20/5/2022, tại trước số nhà 49 H, phường Đ, thành phố H. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H bắt quả tang Trần Ngọc D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên tay phải của D đang cầm 01 (một) hộp nhựa màu xanh, bên ngoài có chữ Xylitol, bên trong chứa 34 (ba mươi bốn) gói ni lông màu trắng, bên trong các gói ni lông màu trắng đều chứa những viên nén màu đỏ, tổng cộng 152 (một trăm năm mươi hai) viên.

Vào lúc 03 giờ 00 phút cùng ngày 20/5/2022, khám xét khẩn cấp nơi ở của Duy tại số nhà 49 H, phường Đ, thành phố H thu giữ trên nền nhà bên phải từ bên ngoài đi vào (nằm trong phía góc khuất) có 01 (một) gói ni lông, bên trong chứa 27 (hai mươi bảy) gói ni lông nhỏ, bên trong các gói ni lông nhỏ chứa 146 (một trăm bốn mươi sáu) viên nén màu đỏ.

Tất cả 298 (hai trăm chín mươi tám) viên nén màu đỏ, D khai nhận là ma túy loại “Hồng phiến” do D mua của một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/5/2022 tại trước nhà 49 đường Trần Huy Liệu, phường Đ, thành phố H với số tiền 3.700.000đ. Sau đó D đưa về nhà chia nhỏ thành nhiều gói, mỗi gói từ 02 đến 10 viên nhằm mục đích bán lại để kiếm lời.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) hộp nhựa màu xanh, bên ngoài có chữ Xylitol, bên trong chứa 34 (ba mươi bốn) gói ni lông màu trắng, bên trong các gói ni lông màu trắng đều chứa những viên nén màu đỏ, tổng cộng 152 (một trăm năm mươi hai) viên nén màu đỏ. Sau tạm giữ đã được niêm phong, gói ký hiệu A1.

- 01 (một) gói ni lông, bên trong chứa 27 (hai mươi bảy) gói ni lông nhỏ, bên trong các gói ni lông nhỏ chứa 146 (một trăm bốn mươi sáu) viên nén màu đỏ. Sau tạm giữ đã được niêm phong, gói ký hiệu A2.

Tại Bản kết luận giám định số 276/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận:

1. 152 viên nén đều có dạng hình trụ nàu đỏ, ký hiệu A1 có tổng khối lượng là 14,2493g, là ma túy loại Methamphetamine;

2. 146 viên nén đều có dạng hình trụ nàu đỏ, ký hiệu A2 có tổng khối lượng là 13,8694g, là ma túy loại Methamphetamine;

Hoàn lại đối tượng giám định 14,1493g, mẫu còn lại của gói ký hiệu A1 và 13,7964g mẫu còn lại của gói ký hiệu A2.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận việc khởi tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 258/CT-VKSTPH ngày 06 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Trần Ngọc D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Ngọc D từ 10 năm đến 11 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định.

- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/5/2022, tại trước số nhà 49 H, phường Đ, thành phố H, Trần Ngọc D đang có hành vi tàng trữ trái phép 14,2493g Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang. Vào lúc 03 giờ 00 phút cùng ngày, khám xét khẩn cấp nơi ở của Duy thu giữ thêm 13,8694g Methamphetamine, D khai tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổng số ma túy Duy tàng trữ để bán là 28,1187g Methamphetamine. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Trần Ngọc D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là phạm pháp nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, sự phát triển của nòi giống và làm tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phải xử phạt bị cáo bằng một hình phạt thật nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D (cu Lý) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

Vật chứng trên được xác định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Trần Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ