vanban.org

Bản án 280/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TAND tỉnh An Giang; VKSND huyện Chợ M; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 280/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 12 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 620/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 664/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 656/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Như B, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đ, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Thành T, sinh năm 1984; ấp An Khương, xã An Thạnh T, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ t khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như B tr nh y: Bà và ông Trương Thành T tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đ, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; thời gian đầu sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T không lo cuộc sống chung của vợ chồng, thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình và từ năm 2022 đến nay không còn sống chung. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trương Thành T.

- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trương Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 18/12/2019. Hiện con chung đang sống chung với bà B; sau khi ly hôn bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ t i sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

- Về quan hệ nợ chung: Bà B trình bày không có nợ chung. Bị đơn ông Trương Thành T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Như B khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Trương Thành T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ M, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ M thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền. Bà Nguyễn Thị Như B có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trương Thành T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Như B và ông Trương Thành T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2018 ông, bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn của ông, bà là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, theo bà B trình bày mâu thuẫn phát sinh từ việc vợ chồng không tôn trọng nhau, tính tình không hợp, trong thời gian chung sống thường xảy ra bất hòa, cả hai đã cố gắng tìm cách hàn gắn vẫn không thể nào chung sống với nhau và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Nguyễn Thị Như B xin ly hôn, do cuộc sống chung vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Như B.

- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trương Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 18/12/2019. Hiện con chung đang sống chung với bà B; sau khi ly hôn bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy từ khi bà B và ông T không còn sống chung trong khoảng thời gian dài; bà B vẫn đảm bảo đủ điều kiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt về thể chất đối với cháu Trương Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 18/12/2019. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Trâm phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử nghỉ nên giao cháu Trâm cho bà B được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung do bà B không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Ông Trương Thành T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ t i sản chung: Bà Nguyễn Thị Như B khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà B trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà B và ông T trong thời kỳ hôn nhân thì bà B và ông T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào,

- Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Các Điều 28, 35, 146, 147, 212, 213, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như B. 2) Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như B được ly hôn với ông Trương Thành T. 3) Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Như B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trương Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 18/12/2019. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Trương Thành T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. 4) Về quan hệ t i sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét đến. 5) Ghi nhận bà B trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà B và ông T trong thời kỳ hôn nhân thì bà B và ông T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. 6) Về án phí: Bà Nguyễn Thị Như B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014113 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Như B đã nộp đủ. Ông Trương Thành T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. 7) Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Như B và ông Trương Thành T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ. Trường hợp ản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân s th người được thi h nh án dân s , người phải thi h nh án dân s có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, t nguyện thi h nh án hoặc ị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân s ; thời hiệu thi h nh án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân s .

Cỡ chữ