vanban.org

Bản án 280/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Luân Phú T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Luân Phú T như sau:

Tuyên bố các bị cáo Luân Phú T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Luân Phú T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/4/2022 đến ngày 06/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Luân Phú T và đồng phạm bị xét xử về tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Luân Phú T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Luân Phú T như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2022/HS-PT
Ngày 23-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Huy Cường.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 23 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 272/2022/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Luân Phú T và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Luân Phú T (tên gọi khác: N), sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Dương; nơi ĐKHKTT: số 87, đường Nguyễn Tri P, tổ 68, khu phố 10, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi ở: số 121, đường Võ Minh Đ, tổ 79, khu phố 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Luân Phú H (đã chết) và bà Liêu X, sinh năm 1952; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04/6/2004, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 48/HS-ST; ngày 25/01/2005, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2005/HSST, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/HS-ST ngày 04/6/2004, buộc chấp hành hình phạt chung là 18 tháng tù; ngày 21/01/2010, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2010/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 06/5/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh.

2. Lê Thị Hồng L (tên gọi khác: O), sinh năm 1973 tại tỉnh Bình Dương; nơi ĐKHKTT: số Đ42/37, tổ 37, khu phố 5, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1940 và bà Lê Thị C, sinh năm 1941; có chồng tên Nguyễn Minh P, sinh năm 1971 (đã chết), có 01 con sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: ngày 11/8/2021 bị Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực y tế số 194/QĐ-XPVPHC với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) do không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Liêu Hồng Q (tên gọi khác: M), sinh năm 1978 tại tỉnh Bình Dương; nơi ĐKHKTT: số D214/29, tổ 29, khu phố 4, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liêu C, sinh năm 1956 và bà Tạ Ngọc N, sinh năm 1960; có vợ tên Phương Thị Hồng T, có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Vương Đình C, sinh ngày 26/9/2003 tại tỉnh Bình Dương; nơi ĐKHKTT: số F519/60, tổ 60, khu phố 7, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: công nhân; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Cảnh L, sinh năm 1972 và bà Lý Hồng T, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 09/3/2022, Công an phường C, thành phố T tiếp nhận tố giác về tội phạm của người dân về việc tại khu vực phía trước nhà bà Huỳnh Thị Kim H (tên gọi khác: bà C), sinh năm 1946, địa chỉ tại số F287/60, đường K, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương hiện đang có một nhóm đối tượng tụ tập tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu. Công an phường C tiến hành xác minh nhanh và phát hiện Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu ở trước nhà bà Huỳnh Thị Kim H (riêng Luân Phú T và một số đối tượng khác hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch đã bỏ trốn) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 24.570.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng);

- 03 (ba) hột xí ngầu bằng nhựa; 01 (một) cái dĩa sành nhỏ; 01 (một) cái nắp bằng nhựa hình trụ tròn; 01 (một) cái chiếu, bên trên chiếu có 01 tấm bìa kích thước 30 cm x 60 cm, dán băng keo đen ở bốn góc, có ghi chữ X bên trái, chữ T bên phải và các số 1, 2, 3, 4, 5, 6 đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1280.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Metallicstar.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus.

Cùng ngày 09/3/2022, Công an phường C chuyển hồ sơ vụ việc, các đối tượng cùng số vật chứng nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để điều tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền. Đến ngày 13/4/2022, Luân Phú T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để đầu thú.

Quá trình xác minh và điều tra đã xác định rõ hành vi phạm tội của các đối tượng Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C, cụ thể như sau:

Cách thức chơi: Luân Phú T là người làm cái còn Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C là những người tham gia chơi và đặt cược tiền. T là người làm cái duy nhất. T lấy 03 (ba) hột xí ngầu bằng nhựa (trên mỗi hột có 06 mặt in các chấm màu đỏ hoặc màu đen theo thứ tự từ 01 chấm đến 06 chấm hoặc được gọi là 01 điểm đến 06 điểm) đặt lên trên 01 (một) cái dĩa sành nhỏ màu trắng, dùng 01 (một) cái nắp bằng nhựa hình trụ tròn màu xanh có dán băng keo đen bên ngoài đậy lại, sau đó T cầm lên lắc 01 (một) cái rồi đặt xuống đất. Lúc này, L, Q và C sẽ đặt cược tiền vào 01 (một) tấm bìa có kích thước 30 cm x 60 cm được dán băng keo đen bốn góc trên chiếc chiếu cả nhóm đang ngồi, trên tấm bìa có ghi chữ “X” bên trái gọi là cửa “Xỉu”, ghi chữ “T” bên phải gọi là cửa “Tài” và ghi các số “1, 2, 3, 4, 5, 6” ở giữa, các con bạc đặt cược tiền nhỏ nhất là 50.000 (năm mươi nghìn) đồng và lớn nhất là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng vào cửa “Tài” hay cửa “Xỉu” là tùy theo ý của mỗi người. Sau khi đặt tiền xong, T sẽ mở nắp nhựa ra để kiểm tra kết quả, nếu những mặt ngửa lên của 03 (ba) hột xí ngầu cộng lại có từ 03 (ba) điểm đến 10 (mười) điểm thì kết quả là “Xỉu” và nếu cộng lại từ 11 điểm đến 18 điểm thì kết quả là “Tài”, con bạc nào đặt cược ở cửa “Tài” hoặc cửa “Xỉu” trúng so với kết quả thì sẽ thắng được số tiền tương đương với số tiền đã đặt trước đó (theo tỷ lệ 1:1) và ngược lại nếu đặt cược không trúng so với kết quả thì sẽ bị thua hết số tiền đã đặt.

- Số tiền của từng đối tượng sử dụng để đánh bạc:

+ Luân Phú T mang theo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C. Tính đến thời điểm bị bắt, T đã thua số tiền là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng; khi lực lượng Công an phường C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang T đã bỏ trốn và tiêu xài hết 500.000 (năm trăm nghìn) đồng tiền mang theo để sử dụng vào mục đích đánh bạc.

+ Lê Thị Hồng L mang theo số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với với Liêu Hồng Q, Vương Đình C và Luân Phú T. Tính đến thời điểm bị bắt, L bị thua số tiền là 7.800.000 (bảy triệu tám trăm nghìn) đồng và bị tạm giữ số tiền là 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng.

+ Liêu Hồng Q mang theo số tiền là 100.000 (một trăm nghìn) đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với Lê Thị Hồng L, Vương Đình C và Luân Phú T. Sau khi thua hết 100.000 (một trăm nghìn) đồng Q quay về nhà để lấy thêm số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng chở con đi khám bệnh, lúc này Q thấy trong tủ còn dư 2.070.000 (hai triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng nên trong lúc chờ con đi học về Q quay lại chiếu bạc và sử dụng số tiền 2.070.000 (hai triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng để tiếp tục đặt cược. Khi đang chuẩn bị đặt cược thì Q bị lực lượng Công an phường C lập biên bản bắt quả tang. Tính đến thời điểm bị bắt, Q đã thua số tiền là 100.000 (một trăm nghìn) đồng và bị tạm giữ số tiền là 7.070.000 (bảy triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng (trong đó, tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.070.000 (hai triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng, tiền thu giữ trên người là 5.000.000 (năm triệu) đồng.

+ Vương Đình C mang theo số tiền là 2.000.000 (hai triệu) đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Luân Phú T. Tính đến thời điểm bị bắt, C đã thắng được số tiền là 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng và bị tạm giữ số tiền là 3.700.000 (ba triệu bảy trăm nghìn) đồng.

+ Số tiền 5.900.000 (năm triệu chín trăm nghìn) đồng còn lại trên chiếu bạc (trừ số tiền của Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C) là của các đối tượng hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch, sử dụng vào mục đích đánh bạc bỏ lại trên chiếu bạc và bỏ trốn.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q, Vương Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

2/ Về hình phạt:

2.1/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Luân Phú T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2022 đến ngày 06/5/2022.

2.2/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022.

2.3/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Liêu Hồng Q 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022.

2.4/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vương Đình C 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 19/9/2022 bị cáo Liêu Hồng Q có đơn kháng cáo với nội dung xin được chuyển mức hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc được hưởng án treo.

Ngày 19/9/2022 bị cáo Vương Đình C có đơn kháng cáo với nội dung xin được chuyển mức hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc được hưởng án treo.

Ngày 22/9/2022 bị cáo Lê Thị Hồng L có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Ngày 29/9/2022 bị cáo Luân Phú T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Trong vụ án này bị cáo T có vai trò cao hơn các bị cáo khác, bị cáo trực tiếp làm cái, bị cáo có nhân thân nhiều lần bị xét xử về tội đánh bạc nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo; bị cáo L có 01 tiền sự nên không được xem là có nhân thân tốt, tuy nhiên mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo là nghiêm khắc nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo. Đối với các bị cáo Q, C, trong vụ án các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Luân Phú T; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hồng L, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L từ 03 đến 06 tháng tù; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Liêu Hồng Q và Vương Đình C phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/12/2022, bị cáo Lê Thị Hồng L khai từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu. Căn cứ biên bản xác minh ngày 14/12/2022 tại Công an phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương thể hiện bị cáo L từng bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực y tế tại Quyết định số 194/QĐ-XPVPHC ngày 11/8/2021 của Ủy ban nhân dân phường C với số tiền 2.000.000 đồng do không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm chưa điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về đặc điểm nhân thân của bị cáo L, tuy nhiên thiếu sót của cấp sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến tính chất, mức độ, hành vi cũng như khung hình phạt đối với bị cáo. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm để tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo.

Lời khai của các bị cáo thống nhất và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/3/2022 các bị cáo Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, dưới hình thức tài xỉu với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 25.070.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo Luân Phú T, Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Luân Phú T: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo T từng chấp hành hình phạt tù của 03 bản án về tội đánh bạc nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian là cần thiết, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, sửa chữa bản thân. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hồng L: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, xác minh về nhân thân bị cáo có 01 tiền sự nên không được xem là có nhân thân tốt, không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc. Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo L.

Xét kháng cáo xin được chuyển mức hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc được hưởng án treo của bị cáo Liêu Hồng Q và Vương Đình C: Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành nên vai trò đồng phạm ngang nhau, số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo không lớn, các bị cáo nhất thời phạm tội, không lấy tiền thắng do đánh bạc làm động cơ và mục đích phạm tội; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tạo điều kiện cho các bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ sự răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm:

Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C không phải chịu theo quy định.

Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Luân Phú T phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Luân Phú T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Luân Phú T như sau:

Tuyên bố các bị cáo Luân Phú T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Luân Phú T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/4/2022 đến ngày 06/5/2022.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C. Sửa Bản án sơ thẩm số 166/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C về hình phạt như sau:

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2022 đến ngày 14/3/2022.

Xử phạt bị cáo Liêu Hồng Q số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Xử phạt bị cáo Vương Đình C số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Thị Hồng L, Liêu Hồng Q và Vương Đình C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Luân Phú T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ