- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn T cùng đồng phạm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Hà Văn N phạm tội “Giữ ngƣời trái pháp luật” và tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 157 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 280/2020/HSST Ngày 24 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn.
2. Ông Nguyễn Đình Thế.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 270/2020/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 284/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn T, sinh năm 1995 tại tỉnh Thái Bình; thƣờng trú: Thôn 13, thị trấn N huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông (không rõ) và con bà Lƣơng Thị G, sinh năm 1955; bị cáo có 02 anh em, bị cáo là thứ 1; tiền án, tiền sự : Không có. Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 13/01/2020, có mặt.
2. Hà Văn N, sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Lắk; thƣờng trú: Thôn T xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mƣờng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà Văn B, sinh năm 1973 và con bà Vi Thị B, sinh năm 1977; bị cáo có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; tiền án, tiền sự : Không có. Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 30/5/2020, có mặt.
Người bào chữa: Ông Đỗ Thanh V – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Bình Dƣơng bào chữa cho bị cáo Hà Văn N.
Bị hại: Chị Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1989; thƣờng trú: Ấp H xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị Mƣời B, sinh năm 1968; thƣờng trú: Ấp H xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
2. Anh Lê Văn S, sinh năm 1964; thƣờng trú: Ấp H xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
3. Chị Phạm Thị Ngọc V, sinh năm 1995; thƣờng trú: Khu phố 13, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
4. Anh Lữ Văn T1, sinh năm 1993; thƣờng trú: 47/15 khu phố B, phƣờng H, Thành phố K, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Người chứng kiến:
1. Anh Triệu Minh N, sinh năm 1993; 2. Anh Hà Văn L, sinh năm 1996, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào ngày 22/12/2019 chị Lê Thị Cẩm H qua giới thiệu vay bị cáo Phạm Văn T số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 20%/ tháng (10 ngày H trả tiền lãi 1.000.000 đồng), thực tế khi vay tiền T đƣa chị H 4.000.000 đồng, ngày 12/01/2020 chị H không có tiền trả lãi suất, T rủ Hà Văn N điều khiển xe mô tô biển số 61D2-061.98 đi từ Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đến thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng tìm và yêu cầu H trả tiền gốc, lãi. Sau khi gặp H không có khả năng thanh toán và nói với T “xuống Thành phố Dĩ An mƣợn tiền trả”. Sau đó H đón xe Grab cùng T, N về Thành phố Dĩ An nhƣng H không mƣợn đƣợc tiền trả. Lúc này T yêu cầu tài xế xe Grab chở H về địa chỉ 456/11B khu phố Chiêu Liêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nơi T thuê ở. Tại đây, T khóa cửa không cho H ra ngoài, yêu cầu H liên lạc về gia đình đem tiền đến trả cho T thì T sẽ thả H về, sau khi H liên lạc điện thoại về gia đình, gia đình H đồng ý trả T 8.000.000 đồng (bao gồm 5.000.000 đồng tiền gốc, 2.500.000 đồng tiền lãi suất và 500.000 đồng tiền thuê xe Grab). Thời điểm này T, N thay phiên nhau canh giữ H. Đến 21 giờ cùng ngày không thấy gia đình H đem tiền đến, T dùng tay tát vào mặt của H 01 cái, dùng 01 chai nƣớc bằng nhựa ném vào đầu H 01 cái, bị cáo N dùng tay tát vào mặt H 01 cái, T, N dùng lời lẽ đe dọa H với nội dung “mày phải kêu mẹ mày mang tiền xuống đây trả cho tao thì tao không đánh mày nữa, mang tiền xuống thì tao cho mày về”, tiếp tục yêu cầu H liên lạc ngƣời nhà đem tiền trả cho T. Gia đình H đã đến Cơ quan Công an trình báo toàn bộ sự việc. T giữ H đến 18 giờ 30 phút ngày 13/01/2020 lực lƣợng Công an phƣờng Tân Đông Hiệp, Thành phố Dĩ An nhận tin báo đến lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, sau đó đƣa T về trụ sở Công an để làm việc. Đối với bị cáo N đã bỏ về từ lúc 23 giờ ngày 12/01/2020, sau này khi biết T bị bắt ngày 30/5/2020 N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Dĩ An đầu thú.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Xe mô tô biển số 61D2-061.98 bị cáo T, N sử dụng phạm tội xe trên thuộc sở hữu của anh Lữ Văn T1. Anh T1 cho T mƣợn xe không biết T dùng làm phƣơng tiện phạm tội. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh T1.
Cáo trạng số 303/CT – VKS ngày 24 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Hà Văn N về tội “Giữ ngƣời trái pháp luật” và tội “Cƣỡng đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ.
+ Khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 07 tháng đến 9 tháng tù về tội “ Giữ ngƣời trái pháp luật”
+ Khoản 1 Điều 170, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 1 năm 03 tháng tù đến 1 năm 6 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ 01 năm 10 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù.
+ Khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Giữ ngƣời trái pháp luật”
+ Khoản 1 Điều 170, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Hà Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 11 tháng tù.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo N: Thống nhất với cáo trạng truy tố và bản luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo N. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhƣ đại diện viện kiểm sát viện dẫn đối với bị cáo N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm bị cáo N nhất thời phạm tội, phạm tội do bị rủ rê, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội nhƣng chƣa gây ra thiệt hại về tài sản. Do vậy, đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập cộng đồng làm ngƣời công dân tốt.
Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Phạm Văn T: Bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế, xin đƣợc giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.
Bị cáo Hà Văn N: Bị cáo biết hành vi của mình là sai pháp luật, xin xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất do phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang ngày 13/01/2020, biên bản ghi lời khai bị hại, ngƣời làm chứng, bản ảnh thực nghiệm điều tra, lời khai các bị cáo thể hiện. Do bị hại Lê Thị Cẩm H thỏa thuận vay 5.000.000 đồng của bị cáo Phạm Văn T nhƣng H không trả đƣợc gốc, lãi đúng hạn. Trong các ngày 12 và 13/01/2020 bị cáo Phạm Văn T rủ bị cáo Hà Văn N đi tìm H, sau đó cả hai đƣa H về nhà trọ nơi T thuê ở giữ H lại, tại đây các bị cáo đã dùng tay, chai nƣớc để tát và đánh vào đầu H, dùng lời lẽ đe dọa buộc H phải điện thoại về gia đình mang 8.000.000 đồng đến trả T thì T, N mới thả H về, các bị cáo đã giữ H thời gian từ khoảng 17 giờ ngày 12/01/2020 đến 18 giờ 30 ngày 13/01/2020. Nhƣ vậy, hành vi trên của bị cáo T, N là hành vi của tội “Giữ ngƣời trái pháp luật” và tội “Cƣỡng đoạt tài sản”, bản cáo trạng số 303/CT – VKS ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T, N không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với tội “ Giữ ngƣời trái pháp luật” bị cáo T, N phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại đối với tội “Cƣỡng đoạt tài sản”, bị cáo N ra đầu thú, bị cáo N có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tình tiết trên đƣợc quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo T, N có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án, tiền sự, các bị cáo nhất thời phạm tội.
Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T, N cùng một lúc phạm hai tội trong đó có một tội thực hiện thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 05 năm tù. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm về thân thể, quyền tự do, dân chủ của bị hại chị Lê Thị Cẩm H đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, bị cáo T, N còn xâm phạm trực tiếp đến tài sản bị hại H. Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là giản đơn do các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Trong vụ án bị cáo T là ngƣời giữ vai trò chính, bị cáo N thực hiện theo yêu cầu của bị cáo T. Do vậy mức hình phạt bị cáo T phải cao hơn so với N.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo chƣa chiếm đoạt đƣợc tài sản của bị hại H, trong quá trình điều tra bị hại H không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác. Hội đồng xét xử không xét.
Đối với bài bào chữa của ngƣời bào chữa cho bị cáo N phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử vì vậy đƣợc chấp nhận.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát Thành phố Dĩ An đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, mức hình phạt các bị cáo phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử vì vậy đƣợc chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Hà Văn N phạm tội “Giữ ngƣời trái pháp luật” và tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “ Giữ ngƣời trái pháp luật”
Căn cứ khoản 1 Điều 170, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 01 (một) năm 10 (mƣời) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2020.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Giữ ngƣời trái pháp luật”
Căn cứ khoản 1 Điều 170, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N 01 (một) năm tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Hà Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2020.
3.Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Các bị cáo Phạm Văn T, Hà Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Chi cục THA dân sự TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã, phƣờng nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; bị hại; ngƣời cqlnvlq; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |