vanban.org

Bản án 28/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo ĐVD 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-01-2020.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 116/M3 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định (kí hiệu M3). Sau giám định còn 0,0914 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐVD "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo ĐVD 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-01-2020.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HS-ST
Ngày 26-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Cao Hoài Hiêm.

2. Bà Dương Thị Mỹ Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Văn phòng khu phố Suối Sâu, thuộc phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

ĐVD; sinh năm: 19..; tại Thành phố H; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh T; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông ĐVH và bà NTS; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ ngày 21-01-2020, bị tạm giam từ ngày 30-01-2020 đến nay, (có mặt).

Người làm chứng: MVT; sinh năm: 19..; địa chỉ: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh T, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ĐVD là người nghiện ma túy, nên hay mua ma túy để sẳn khi có nhu cầu thì lấy sử dụng. Vào khoảng 15 giờ ngày 21-01-2020, D đi xe taxi từ Gò Vấp về đến cầu vượt huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp người thanh niên tên C (không rõ địa chỉ) mua 01 bịch chất ma tuý số tiền 200.000 đồng cất giấu trong ví để sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, D đến phòng số 4, nhà trọ “ HS” (nơi ở của MVT) để chờ T xăm hình, thì có THN đến chơi, đến khoảng 18 giờ thì có VVT đến bán cho N 01 bịch chất ma túy thì bị Công an thị xã T bắt quả tang. Công an tiếp tục kiểm tra trên người của D thì phát hiện D đang tàng trữ trái phép 01 bịch chất ma tuý trong ví ở túi quần và một số vật chứng có liên quan để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bịch ny lon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể trong suốt đã được niêm phong, D khai là chất ma túy; tiền Việt Nam 1.500.000 đồng; 01 cái ví (bóp) da, màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, có sim số: ... Tất cả đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng chờ xử lý.

Tại Kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 25-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể trong suốt bên trong một bịch ny lon trong suốt (kí hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; tên loại Methamphetamine; khối lượng 0,1447 gam, sau giám định còn 0,0914 gam.

Do ĐVD không có tài sản nên không kê biên.

Đối với người thanh niên tên C bán ma túy không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ĐVD đã bị Công an thị xã T, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với VVT có hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” Công an thị xã Trảng Bàng đã ra Quyết định tách vụ án để xử lý T và N trong vụ án khác.

Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKSTrB ngày 24-4-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, đã truy tố bị cáo ĐVD về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: ĐVD từ 12 đến 15 tháng tù. Không phạt bổ sung bị cáo do bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo ĐVD thừa nhận hành vi có mua ma tuý về tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với Cáo trạng truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào 17 giờ ngày 21-01-2020, D đến phòng số 4, nhà trọ “ HS” (nơi ở của MVT) để chờ T xăm hình, thì có N đến chơi, đến khoảng 18 giờ thì có T đến bán cho N 01 bịch chất ma túy thì bị Công an thị xã Trảng Bàng bắt quả tang. Công an tiếp tục kiểm tra trên người của D thì phát hiện D đang tàng trữ trái phép 01 bịch chất ma tuý trong ví ở túi quần, giám định là loại Methamphetamine; khối lượng 0,1447 gam là vi phạm pháp luật.

Hành vi của bị cáo ĐVD có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo biết rõ chất Methamphetamine là Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng …, nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích là để sử dụng, nhằm thỏa mãn cho nhu cầu của cá nhân. Do đó hành vi của bị cáo cần phải xử phạt mức án nghiêm, cách ly xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, có cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có tham gia nghĩa vụ quân sự tại Sư đoàn BB5, Trung đoàn BB271 thuộc tỉnh Bình Dương đến ngày 20-01-2020 xuất ngũ, các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Do bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vật chứng thu giữ: 01 bịch ny lon bên trong có chứa tinh thể trong suốt (kí hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; tên loại Methamphetamine; khối lượng 0,1447 gam, sau giám định còn 0,0914 gam cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Tiền Việt Nam là 1.500.000 đồng; 01 cái ví (bóp) da, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, có sim số: .. là của bị cáo, nhưng không liên quan đến việc tàng trữ ma tuý, nên cần trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo ĐVD 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-01-2020.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 116/M3 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định (kí hiệu M3). Sau giám định còn 0,0914 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine.

- Trả lại cho bị cáo D: Tiền Việt Nam là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng; 01 (một) cái ví (bóp) da, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, số Imel: 357941/06/211843/9, bên trong có sim số: .. (đã qua sử dụng).

(Số vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-5-2020).

3. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo ĐVD phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ