vanban.org

Bản án 28/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: không có Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hán Thị Hải Yến tranh chấp ly hôn với ông Gitsenko Aleskey"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 12 năm 2021
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Trầm

- Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Duy

Bà Lê Minh Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Vi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2021/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Thông báo ngày xét xử số 219/TB-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2021giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hán Thị Hải Y – SN 1985

Địa chỉ: 117B (số mới 217) Đường 23/10, phường P, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Gritsenko A - SN 1985

Địa chỉ: Tashkent, Mirobod District, Shahrsabz ST 8.15, Uzbekistan.

Địa chỉ hiện nay: 12/2 Ngô Q, phường X, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/3/2021, bản tự khai ngày 04/5/2021, nguyên đơn bà Hán Thị Hải Y trình bày: bà và ông Gritsenko A có quen biết từ tháng 3/2017, đến năm 2019 tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 208 ngày 15/11/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang. Trong thời gian chung sống, ông A sử dụng chất kích thích gây nghiện, ghen tuông vô cớ, đe dọa, xúc phạm bà. Bà có khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng ông A không thay đổi dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Ông A có thời gian điều trị tại Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tỉnh K do di chứng của bệnh viêm não Vernicker và tiền sử sử dụng chất kích thích trong quá trình bà gửi đơn ly hôn. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 02/2021 nên nay bà thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với ông A. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2021, bị đơn ông Gritsenko A trình bày: Ông và bà Hán Thị Hải Y kết hôn năm nào ông không nhớ nhưng ông xác nhận chữ ký trên giấy chứng nhận kết hôn do Tòa án tỉnh xuất trình là chữ ký của ông. Ông và bà Y không có con chung, tài sản chung. Ông không đe dọa tinh thần bà Y, không nghiện rượu, thỉnh thoảng có uống vài lon bia. Việc ly hôn để ông trao đổi lại với vợ vì chưa nghe bà Y nói gì về việc gửi đơn ly hôn.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, có căn cứ và đúng pháp luật. Đối với người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiên đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn, ngày 16/4/2021, có vào Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tỉnh K để điều trị với chẩn đoán rối loạn tâm thần và hành vi sử dụng nhiều loại ma túy và chất tác động khác. Ngày 07/5/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác minh tại bệnh viện tâm thần tỉnh K cho thấy ông A vẫn giao tiếp, tiếp xúc tốt, nghe nói hiểu. Ngày 21/5/2021 thì xuất viện. Như vậy ông A có sử dụng ma túy nhưng không phá tài sản của gia đình và vẫn nhận thức, tiếp xúc bình thường cho thấy bị đơn ông A có đầy đủ năng lực tố tụng và năng lực hành vi dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn ông Gritsenko A hiện đang cư trú tại Việt Nam nhưng có quốc tịch Uzbekistan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Nguyên đơn bà Hán Thị Hải Y đã có lời khai và có đơn đề nghị Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Gritsenko A hiện đang cư trú tại 12/2 Ngô Q, phường X, thành phố N, tỉnh K đã được Tòa giao các các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Bà Hán Thị Hải Y và ông Gritsenko A tự nguyện kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thành phố N theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 208 ngày 15/11/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, ông A có sử dụng nhiều loại ma túy và chất tác động tâm thần khác dẫn đến rối loạn tâm thần và được điều trị tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần tỉnh K từ ngày 16/4/2021 đến ngày 21/5/2021. Theo biên bản xác minh ngày 07/5/2021 cũng như biên bản lấy lời khai cùng ngày của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thì ông A đang điều trị bệnh rối loạn tâm thần nhưng ông A vẫn giao tiếp, tiếp xúc tốt, nghe nói hiểu. Ông A có biết việc bà Y gửi đơn ly hôn nhưng không có ý kiến mà để trao đổi lại với vợ. Theo bà Y do việc ông A sử dụng nhiều chất kích thích nên thay đổi tính cách ghen tuông vô cớ, đe dọa tinh thần dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng tầm trọng, không hòa giải được và yêu cầu được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian sống chung giữa bà Y và ông A có xảy ra mâu thuẫn đã lâu, từ tháng 02/2021 hai người cũng không còn sống chung nên tình cảm vợ chồng là không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Hán Thị Hải Y là có căn cứ và phù hợp.

Về con chung: không có

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất không có nên Tòa án không xem xét.

Án phí: Bà Hán Thị Hải Y phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng khác: Bà Hán Thị Hải Y phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 273 và khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Hán Thị Hải Y được ly hôn ông Gritsenko A.

2.Về con chung: không có

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Hán Thị Hải Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009714 ngày 14/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Hán Thị Hải Y đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về chi phí tố tụng: Bà Hán Thị Hải Y phải chịu chi phí, lệ phí tố tụng.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ