- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh M - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Danh M phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2026/HS-ST Ngày 31-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để và ông Nguyễn Trọng Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2026/TLST-HS ngày 11/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2026/QĐXXST-HS ngày 13/3/2026, đối với bị cáo:
Danh M, sinh ngày 01/01/1983, tại xã A, tỉnh An Giang; CCCD: 09108024260; Nơi cư trú: Tổ I, Ấp B, xã A, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn phổ thông: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Con ông Danh T và bà Lê Thị P; Vợ Thị Kim Phú H và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/4/2021, bị Công an thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC, đã chấp hành nộp phạt xong; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2021 đến ngày 06/02/2026 bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là Tổ B, xã A, tỉnh An Giang) Nguyễn Hoàng L bắt đầu tổ chức đánh bạc với hình thức chơi bông vụ ăn thua bằng tiền tại nhà của L, các đối tượng tham gia đánh bạc gồm: Danh M, Thạch T1, Đỗ Hoàng P1, D, Thái Xuân V, Huỳnh Tấn Đ, Lê Hồng V1, Cái T, Danh Thị N, Huỳnh Văn T2, Trương Thị Mỹ X. Lúc này, Danh M rủ Cái Trung Hiếu hùn tiền để H1 làm cái thì H1 đồng ý, khi chơi H1 cùng Huỳnh Tấn Đ và Thái Xuân V làm cái xoay vòng, cách thức chơi lắc bông vụ là nhà cái sử dụng 06 con xúc xắc có đánh số nút từ 1 đến 6, 05 cái thau nhựa, 03 đĩa sứ, 01 tấm bìa màu trắng - đỏ chia làm 06 ô có đánh dấu từ 1 đến 6, có ký hiệu tài - xỉu, bao chẵn, bao lẻ do Nguyễn Hoàng L, Huỳnh Tấn Đ, Cái Trung H1 cung cấp để phục vụ cho việc đánh bạc, mỗi người làm nhà cái mỗi lượt 01 ván thì chuyển sang người khác, khi hết lượt người làm cái nộp tiền xâu cho L 50.000 đồng, có 07 tụ tham gia đặt cược, mỗi tụ đặt từ 10.000 đồng đến 40.000 đồng, người chơi đặt số bất kỳ từ 01 đến 06 thì tỷ lệ thắng thua là đặt 01 thắng 04, nếu đặt bên tài hoặc bên xỉu thì tỷ lệ thắng thua là đặt 01 thắng 01, quy định từ 01 đến 03 là xỉu, 04 đến 06 là tài.
Khi đi đánh bạc, Danh M mang theo số tiền 4.180.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.580.000 đồng, còn lại 2.600.000 đồng là tiền do M bán vàng giùm cho mẹ ruột là bà Lê Thị P nhưng chưa đưa cho bà P; Thạch T1 mang theo số tiền 520.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc 20.000 đồng; Đỗ Hoàng P1 mang theo số tiền 1.700.000 đồng và lấy ra 200.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Danh M1 mang theo số tiền 720.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Lê Hồng V2 mang theo số tiền 5.000.000 đồng và lấy ra 200.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Danh Thị N mang theo số tiền 60.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Huỳnh Văn T2 mang theo số tiền 40.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trương Thị Mỹ X mang theo số tiền 280.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Huỳnh Tấn Đ mang theo số tiền 500.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; Cái Trung H1 mang theo số tiền 400.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Danh M cùng H1 làm cái 05 ván, đặt tụ 10 ván (mỗi ván 10.000 đồng - 30.000 đồng) thua hết 180.000 đồng; Thái Xuân V tham gia cùng Đ với vai trò xem kết quả thắng, thua để gom tiền và chung tiền đối với người đặt tụ, nếu thắng thì Đ đưa tiền công cho Vĩnh 30% trên tổng số tiền thắng; Cái Trung Hiếu mua lượt của Đ để làm cái 01 ván 20.000 đồng và 01 ván 30.000 đồng, thua hết 10.000 đồng; Huỳnh Tấn Đ làm cái nhiều ván thua hết 500.000 đồng; Thạch Thừa tham gia đặt tụ 02 ván, mỗi ván 10.000 đồng, thua hết 20.000 đồng; Đỗ Hoàng P1 tham gia đặt tụ 06 ván, mỗi ván 20.000 đồng, thua hết 150.000 đồng; Danh Men tham gia đặt tụ 02 ván, mỗi ván 20.000 đồng, thua hết 40.000 đồng; Lê Hồng V1 tham gia đặt tụ 10 ván, mỗi ván 20.000 đồng, thua hết 100.000 đồng; Danh Thị N tham gia đặt tụ nhiều ván, mỗi ván 10.000 đồng, thua hết 40.000 đồng; Huỳnh Văn T2 tham gia đặt tụ 01 ván 40.000 đồng, thua hết 40.000 đồng; Trương Thị Mỹ X tham gia đặt tụ nhiều ván, mỗi ván 10.000 đồng - 40.000 đồng), thua hết 280.000 đồng. Trong ngày 09/7/2021, Nguyễn Hoàng L thu tiền xâu được tổng số tiền 120.000 đồng.
Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, thì bị công an đến bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang lực lượng công an thu giữ các vật chứng có liên quan. Kết quả điều tra xác định được tổng số tiền các đối tượng đánh bạc và sẽ dùng vào mục đích đánh bạc là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, vật chứng sau: 05 (năm) cái thau nhựa; 03 (ba) đĩa sứ; 02 (hai) tấm bìa mỗi tấm chia làm 06 ô và có đánh dấu từ 1 đến 6, có ký hiệu tài - xỉu, bao chẵn, bao lẻ; 06 (sáu) con xúc xắc có đánh số nút từ 1 đến 6; tiền Việt Nam 5.030.000 đồng (năm triệu không trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó tiền thu trên chiếu bạc là 470.000 đồng, kiểm tra người và những người tham gia đánh bạc tự nguyện giao nộp là 4.560.000 đồng.
- Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSKV7 ngày 25/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang truy tố Danh M về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Danh M phạm tội Đánh bạc; đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh M từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) cái thau nhựa; 03 (ba) đĩa sứ; 02 (hai) tấm bìa mỗi tấm chia làm 06 ô và có đánh dấu từ 1 đến 6, có ký hiệu tài - xỉu, bao chẵn, bao lẻ; 06 (sáu) con xúc xắc có đánh số nút từ 1 đến 6.
Đề tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) của Danh M và số tiền 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) của Danh M1 dùng vào việc đánh bạc.
Đối với số tiền 470.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ trên chiếu bạc, đã tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.
Đề nghị trả lại cho Danh M số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) do không có liên quan đến vụ án.
- Bị cáo Danh M trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lao động nuôi gia đình, bị cáo còn cha mẹ già và ngoại bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội, tội danh:
Ngày 08/4/2021, Danh M đã bị Công an thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC, đã chấp hành nộp phạt xong. Đến 16 giờ 40 phút ngày 09/7/2021, tại Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là Tổ B, xã A, tỉnh An Giang), Danh M có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi bông vụ thắng thua bằng tiền cùng với các đối tượng: Thạch Thừa, Đỗ Hoàng P1, D, Thái Xuân V, Huỳnh Tấn Đ, Lê Hồng V2, Cái Trung H1, Danh Thị N, Huỳnh Văn T2, Nguyễn Thị Mỹ X1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 4.000.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Căn cứ tiền sự của bị cáo và số tiền đánh bạc, Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với các đối tượng: Nguyễn Hoàng L có hành vi tổ chức đánh bạc và các đối tượng Thạch T1, Đỗ Hoàng P1, Danh M1, Thái Xuân V, Huỳnh Tấn Đ, Lê Hồng V2, Cái Trung H1, Danh Thị N, Huỳnh Văn T2, Nguyễn Thị Mỹ X1 có hành vi đánh bạc trái phép, nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ yếu tố để xử lý hình sự về Tội tổ chức đánh bạc và T3 đánh bạc nên Công an thị trấn T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A (cũ) đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng hành vi, có khả năng nhận thức và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, bị cáo biết rõ đánh bạc dưới hình chơi bông dụ ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị pháp luật cấm, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, trong thời gian chưa được xóa tiền sự bị cáo lại tiếp tục thực hiện đánh bạc ăn thua bằng tiền thể hiện sự xem thường pháp luật. Bị cáo không suy nghĩ đến hậu quả của việc đánh bạc ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Trong thời gian bị truy tố, bị cáo đã có hành vi bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân để tuyên xử mức án phù hợp nhằm răn đe đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp hơn khung hình phạt bị truy tố cũng đủ răn đe đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Thống nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Danh M phạm tội Đánh bạc.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Danh M 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo là ngày 06/02/2026.
2- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) cái thau nhựa; 03 (ba) đĩa sứ; 02 (hai) tấm bìa mỗi tấm chia làm 06 ô và có đánh dấu từ 1 đến 6, có ký hiệu tài - xỉu, bao chẵn, bao lẻ; 06 (sáu) con xúc xắc có đánh số nút từ 1 đến 6.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) của Danh M và số tiền 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) của Danh M1 dùng vào việc đánh bạc.
Trả lại cho Danh M số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) do không có liên quan đến vụ án.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 47/QĐ-VKSKV7 ngày 25/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang).
3- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Danh M chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 31/3/2026)./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 7; - Phòng THADS khu vực 7; - Phân trại tạm giam khu vực UMT; - Công an xã An Biên; - Bị cáo; - PhònPg hồ sơ (PV27) CA tỉnh AG; - Sở TP tỉnh AG; - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Trường Hận |