vanban.org

Bản án 28/2026/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 08/05/2026 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA T- H"
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2026/HNGĐ-PT
Ngày 08 - 5 - 2026
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dững

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Kiến

Ông Lê Thành Tôn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở 1 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2026/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.

Do ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp ị kháng cáo.

Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 806/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 3 năm 2026, giữa các ư ng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỷ T, sinh năm 2003.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị Mỷ T: Ông Lê Thanh P là Luật sư của Công ty L2 - Chi nhánh T3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.

2. Bị đơn: Anh Lai Nguyễn Hữu H, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo uỷ quyền của anh L Nguyễn Hữu H: Bà Trịnh Thanh T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Mỷ T là nguyên n; Anh Lai Nguyễn Hữu H là ị n trong vụ án.

(Chị T, Luật sư P, anh H, bà T1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tài phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh L Nguyễn Hữu H kết hôn vào năm 2022, ăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân ược xây dựng trên c sở tự nguyện.

Thời gian ầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau ó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân sống chung nhà với cha mẹ chồng do không sắp xếp ược công việc nhà, công việc uôn án quần áo, cha mẹ chồng và anh H không thông cảm, chia sẻ hay la rầy; thấy không sống chung ược với cha mẹ chồng nên ề nghị ra riêng anh H không ồng ý. Vợ chồng nhiều lần cãi nhau, có lần thống nhất ly hôn, chị ồng con về nhà cha mẹ ruột th ị anh H ngăn cản ằng cách ném con dao xuống gạch văng trúng phần chân phải ến ệnh viện, có khi không vừa ý chuyện g anh H còn dùng tay ánh, óp cổ và khi ang nuôi con nhỏ, tuy thư ng tích không lớn nhưng ảnh hưởng ến tâm lý, t nh cảm và có ý ịnh ly hôn, ược gia nh hai ên hàn gắn nhưng không khắc phục ược. Đến ngày 10/12/2024, chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh H về nhà cha mẹ ruột sinh sống.

Nay t nh cảm vợ chồng không còn, mục ích hôn nhân không ạt ược, mỗi người cần có cuộc sống riêng nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị T trình bày có 01 con chung tên Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024, hiện do anh H nuôi dưỡng.

Chị T yêu cầu ược nuôi dưỡng con, v con dưới 36 tháng tuổi và là nữ cần sự chăm sóc của mẹ; có n i ở ổn ịnh sống chung nhà với cha mẹ ruột và ang mua án quần áo online, thu nhập hàng tháng khoảng 10.000.000 ồng ến 15.000.000 ồng ủ iều kiện ể nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng, trường hợp Tòa án giao con cho anh H nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Theo n khởi kiện, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị T yêu cầu chia tài sản chung 6,9 lượng vàng 24 Kra, thống nhất giá trị mỗi lượng vàng là 129.900.000 ồng (12.990.000 ồng/chỉ), hiện anh H ang cất giữ, yêu cầu anh H chia và giao ½ tài sản chung là 3,45 lượng vàng 24 Kra, cụ thể: Vàng cưới 2,7 lượng vàng 24 Kra yêu cầu chia ½ là 1,35 lượng vàng và vàng vợ chồng tạo lập 4,2 lượng vàng 24 Kra yêu cầu chia ½ là 2,1 lượng vàng.

Chị T xác ịnh anh H là người giữ 6,9 lượng vàng 24 Kra, trước ngày chị i có lấy số vàng ra kiểm tra còn ủ và cất lại trong ngăn tủ quần áo ể trong phòng riêng của chị và anh H, khi ó anh H có mặt và chứng kiến. Đến ngày 10/12/2024 chị T dọn ồ i chỉ mang theo một số quần áo và ồ dùng cá nhân, không có lấy 6,9 lượng vàng 24 Kra, việc anh H tr nh ày chị lấy tất cả vàng gồm vàng nữ trang và vàng 24 Kra là không úng, v vàng nữ trang gồm dây chuyền, vòng i và vòng xi-men th trước ó chị ã cất giữ và sử dụng cá nhân, còn 6,9 lượng vàng 24 Kra vẫn còn cất giữ trong tủ, anh H là người giữ chìa khóa.

Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lai Nguyễn Hữu H trình bày và phản tố yêu cầu:

Về hôn nhân: Anh H thống nhất như chị Nguyễn Thị Mỷ T trình bày, anh và chị T kết hôn năm 2022, ăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 17/5/2022. Hôn nhân ược xây dựng trên c sở tự nguyện

Thời gian ầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau ó th phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ất ồng ý kiến, có cãi nhau, việc cãi nhau thường gặp trong ời sống vợ chồng, không ến mức trầm trọng và có thể hàn gắn, việc anh ném con dao ể ngăn cản chị T ỏ i chứ không ném vào người chị T, không có ánh hay óp cổ chị T và thường quan tâm chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Trong thời gian sống chung ôi lúc chị T nói năng không tôn trọng cha mẹ anh, thời gian không sống chung có hàn gắn nhưng không ược. Anh không ồng ý ly hôn vẫn còn t nh cảm với chị T và cùng chị T ra ở riêng.

Về con chung: Anh H trình bày có 01 con chung tên Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024, hiện ang sống với anh, từ khi chị T i ến nay anh là người trực tiếp chăm sóc nuôi con ảm ảo ầy ủ về mọi mặt, ược ông à nội quan tâm, chị T ến thăm nom chăm sóc con nh thường. Trường hợp giải quyết vợ chồng ly hôn anh H yêu cầu ược nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, trường hợp giao con cho chị T nuôi dưỡng anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh H yêu cầu chia 07 lượng vàng 24 Kra gồm: Vàng cưới 03 lượng và vàng vợ chồng tự tạo lập 04 lượng; 36,853 chỉ vàng trang sức 610 gồm: 01 dây chuyền, 01 vòng i, 01 vòng xi-men.

Tại phiên tòa s thẩm anh H rút một phần yêu cầu chia 0,1 lượng vàng 24 Kra và 36,853 chỉ vàng trang sức. Anh H chỉ yêu cầu chia 6,9 lượng vàng 24 Kra, thống nhất giá trị mỗi lượng vàng là 129.900.000 ồng (12.990.000 ồng/chỉ), hiện chị T ang cất giữ yêu cầu chị T chia và giao ½ là 3,45 lượng vàng 24 Kra, cụ thể: Vàng cưới 2,7 lượng vàng 24 Kra yêu cầu chị T chia ½ là 1,35 lượng vàng và vàng vợ chồng tự tạo lập 4,2 lượng vàng 24 Kra yêu cầu chị T chia ½ là 2,1 lượng vàng.

Anh H xác ịnh chị T là người giữ 6,9 lượng vàng 24 Kra. Vào khoảng tháng 10/2024 chị T lấy 6,9 lượng vàng 24 Kra ra kiểm tra và chị T cất lại trong ngăn tủ quần áo ể trong phòng riêng của vợ chồng, từ ó ến lúc chị T ỏ i ngày 10/12/2024 th vợ chồng không lấy số vàng này, không sử dụng vào việc g , cũng không em i âu. Trước thời iểm chị T i vàng vẫn còn trong tủ quần áo trong phòng riêng của vợ chồng. Ngày 10/12/2024 lúc chị T dọn ồ i anh không có kiểm tra, ến chiều cùng ngày anh kiểm tra phát hiện mất 6,9 lượng vàng 24 Kra và tr nh áo với chính quyền ịa phư ng khóm T (nay là ấp T, xã T), vàng nữ trang gồm dây chuyền, vòng i và vòng xi-men ược cất giữ chung với 6,9 lượng vàng 24 Kra, v ngày 10/12/2024 chị T không có eo vàng nữ trang này. Sau ó ngày 31/12/2024 chị T eo vàng nữ trang này tại ám ầy tháng cháu chị T, số vàng này từ trước ến thời iểm phát hiện mất do vợ chồng cùng quản lý, cất giữ chưa lần nào lấy ra sử dụng hay mang i âu. Việc mất 6,9 lượng vàng 24 Kra là do chị T lấy cùng với vàng nữ trang khi dọn ồ i.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Quyết ịnh ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỷ T. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Lai Nguyễn Hữu H.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỷ T ược ly hôn với anh Lai Nguyễn Hữu H.

- Về con chung: Anh Lai Nguyễn Hữu H ược tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.

Chị T và anh H ược quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai ược cản trở.

- Về tài sản chung: Anh Lai N có trách nhiệm giao lại cho chị Nguyễn Thị Mỷ T ½ tài sản chung là 3,45 lượng (Ba lượng, ốn mư i lăm chỉ) vàng 24 Kra.

Kể từ ngày có n yêu cầu thi hành án của người ược thi hành án cho ến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy ịnh tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy ịnh khác.

Đ nh chỉ yêu cầu của anh L Nguyễn Hữu H về việc yêu cầu chia tài sản chung là 0,1 lượng vàng 24 Kra và 36,853 chỉ vàng (trang sức 610) gồm 01 dây chuyền, 01 vòng i, 01 ộ vòng xi-men. Anh Lai Nguyễn Hữu H có quyền khởi kiện lại yêu cầu này theo thủ tục chung.

- Về nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội ồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỷ T phải chịu án phí dân sự s thẩm về hôn nhân và gia nh là 300.000 ồng và án phí về chia tài sản là 22.408.000 ồng, tổng cộng là 22.708.000 ồng, ược khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ã nộp là 7.459.000 ồng theo iên lai thu tạm ứng án phí số 0007220, ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh B nh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp); như vậy, chị T còn nộp số tiền là 15.249.000 ồng (Mười lăm triệu hai trăm ốn mư i chín ngh n ồng).

Anh Lai Nguyễn Hữu H phải chịu án phí dân sự s thẩm về chia tài sản là 22.408.000 ồng, ược khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ã nộp là 10.327.000 ồng theo iên lai thu tạm ứng án phí số 0001381, ngày 11/8/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh B nh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp); như vậy, anh H còn nộp số tiền là 12.081.000 ồng (Mười hai triệu không trăm tám mư i mốt ngh n ồng).

Ngoài ra ản án s thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và ngh a vụ, thời hiệu thi hành án của các ư ng sự.

Sau khi xét xử s thẩm:

Ngày 08 tháng 10 năm 2025, chị Nguyễn Thị Mỷ T kháng cáo một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa ản án s thẩm theo hướng giao con chung Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Ngày 20 tháng 10 năm 2025, anh Lai Nguyễn Hữu H kháng cáo một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết uộc chị T phải chia cho anh 34,5 chỉ vàng 24 Kra, v chị T là người giữ tài sản chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Chị Nguyễn Thị Mỷ T tr nh ày: Vẫn giữ kháng cáo, yêu cầu ược nuôi dưỡng con chung Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024, không thống nhất kháng cáo của anh H. Đề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị, sửa ản án s thẩm.

Luật sư Lê Thanh P là người ảo vệ quyền và lợi ích hợp của chị Nguyễn Thị Mỷ T tr nh ày: Bản án s thẩm giao cháu Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024 cho anh L Nguyễn Hữu H nuôi dưỡng là không phù hợp khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia nh “Con dưới 36 tháng tuổi ược giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không ủ iều kiện ể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Cháu Gia H1 chưa ủ 36 tháng tuổi, chị T có ủ iều kiện nuôi con và mẹ nuôi con tốt h n, cháu Gia H1 là nữ, giao cho anh H nuôi dưỡng không ảm ảo. Đề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị T, sửa ản s thẩm giao cháu Gia H1 cho chị T nuôi dưỡng, anh H ược quyền thăm nom chăm sóc con.

Chị Nguyễn Thị Mỷ T tr nh ày: Thống nhất theo lời tr nh ày của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không ổ sung g thêm.

Bà Trịnh Thanh T1 tr nh ày: Vẫn giữ kháng cáo, không ồng ý giao cho chị T 34,5 chỉ vàng 24 Kra, anh L Nguyễn Hữu H chăm sóc cháu Lai Nguyễn Gia H1 rất tốt và phát triển nh thường; tài sản chỉ có anh H và chị T iết. Đề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh H, sửa ản án s thẩm.

Anh Lai Nguyễn Hữu H tr nh ày: Không thống nhất kháng cáo của chị T, từ khi chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống anh chăm sóc nuôi dưỡng Lai Nguyễn Gia H1 ảm ảo về mọi mặt và phát triển nh thường, sau khi xét xử s thẩm chị T không ến thăm nom chăm sóc con. Đề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh, sửa ản án s thẩm, uộc chị T chia cho anh 34,5 chỉ vàng 24 K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá tr nh giải quyết vụ án ở giai oạn phúc thẩm: Thẩm phán ược phân công giải quyết vụ án ã thực hiện úng các quy ịnh của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội ồng xét xử, Thư ký phiên tòa ã thực hiện úng tr nh tự, thủ tục theo quy ịnh của pháp luật. Các ư ng sự ã thực hiện úng quyền, ngh a vụ của m nh theo quy ịnh của pháp luật.

Về quan iểm giải quyết vụ án: Cháu Lai Nguyễn Gia H1 dưới 36 tháng tuổi (hiện cháu ược 22 tháng tuổi) cần ược sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ; chị T có ủ iều kiện về kinh tế ể nuôi con chung, nên cần xem xét giao cháu Gia H1 cho chị T ược nuôi dưỡng. Anh Lai Nguyễn Hữu H kháng cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới ể chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của m nh là có căn cứ. Án s thẩm không quyết ịnh chia cho anh H ược sở hữu 34 chỉ 5 phân vàng 24 Kra là thiếu sót và ghi chú (Ba lượng, ốn mư i lăm chỉ) vàng 24 Kra là sai sót, ngoài ra ã chia vàng th không cần phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án. Đề nghị Hội ồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỷ T, không chấp nhận kháng cáo của anh Lai Nguyễn Hữu H, sửa một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp. Về con chung: Giao cháu Lai Nguyễn Gia H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản: Chia cho anh H ược sở hữu 34 chỉ 5 phân vàng 24 Kra, chia cho chị T 34 chỉ 5 phân vàng 24 Kra. Anh H có trách nhiệm giao lại cho chị T 34 chỉ 5 phân vàng 24 Kra và sửa án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ s , ược thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát iểu của ại diện Viện kiểm sát, Hội ồng xét xử nhận ịnh:

Về tố tụng: Xét n kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỷ T, anh Lai Nguyễn Hữu H nộp trong thời hạn luật ịnh. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp s thẩm xác ịnh quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” thụ lý giải quyết phù hợp khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỷ T yêu cầu sửa ản án s thẩm giao con chung Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội ồng xét xử xét thấy:

Về con chung: Chị T và anh H trình bày có 01 con chung tên Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024, hiện ang sống với anh H. Chị T và anh H ều có nguyện vọng xin ược nuôi dưỡng cháu Gia H1, chị T và anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Khoản 3 Điều 81 của quy ịnh: “Con dưới 36 tháng tuổi ược giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không ủ iều kiện ể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Chỉ v mâu thuẫn vợ chồng, chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống, ể lại cháu Gia H1 chưa ược 10 tháng tuổi cho anh H nuôi dưỡng, chị T cũng thừa nhận cháu Gia H1 phát triển nh thường, sức khỏe tốt. Anh H là chủ hộ kinh doanh “Hộ kinh doanh dịch vụ cầm ồ Thư Phúc (M). Dịch vụ cầm ồ, án mô tô, xe máy, án uôn vải, hàng may mặc, giày dép thu nhập mỗi tháng từ 10.000.000 ồng - 15.000.000 ồng, thu nhập ổn ịnh, hoàn toàn ủ iều kiện ể nuôi cháu Gia H1. Mặc dù, khoản 3 Điều 81 của quy ịnh “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”, nhưng chị T ã không nuôi cháu Gia H1 chưa ược 10 tháng tuổi. Hiện tại, cháu Gia H1 ã quen với iều kiện, môi trường sống và ược anh H nuôi dưỡng, chăm sóc ảm ảo trong iều kiện tốt nhất; nếu giao cháu Gia H1 cho chị T nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng ến sự phát triển nh thường của cháu, Tòa án cấp s thẩm ã xem xét một cách toàn diện, tiếp tục giao cháu Gia H1 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là có c sở. Do anh H không yêu cầu cấp dưỡng không ặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai ược cản trở.

Xét kháng cáo của anh L Nguyễn Hữu H yêu cầu uộc chị T phải chia cho anh 34,5 chỉ vàng 24 Kra, v chị T là người giữ tài sản chung.

Hội ồng xét xử xét thấy:

Về tài sản chung: Anh H và chị T ều thừa nhận vàng cưới và vàng tạo lập 6,9 lượng vàng 24 Kra. Theo chị T trình bày trước ngày về nhà cha mẹ ruột th số vàng ược cất giữ trong tủ quần áo ể trong phòng riêng của vợ chồng, còn anh H cho rằng khi chị T ỏ i ã em vàng theo.

Thời iểm ngày 10/12/2024 tại nhà anh H khi chị T dọn ồ có mặt anh H, ông N và bà T2 là cha mẹ anh H, bà L1 là à nội chị T và ông M, bà C là cha mẹ của chị T tr nh ày không thấy chị T em vàng theo, không chứng kiến việc chị T dọn ồ. Anh H cho rằng chị T em vàng nữ trang như dây chuyền, vòng bi, vòng xi-men, v ngày 10/12/2024 khi chị T i không có eo nữ trang ến ngày 31/12/2024 chị T eo số vàng nữ trang này, số vàng 24 Kra ược cất giữ chung với vàng nữ trang, khi phát hiện ị mất tr nh áo với ịa phư ng, việc tr nh áo không có lập iên ản mà chỉ là lời tr nh ày của anh H.

Ông Bùi Trung H2 là Phó Ấp T có văn ản không ề ngày tháng tr nh bày: Vào ngày 10/12/2024, anh H có "Tờ tường tr nh" gửi Ban N1 (nay là ấp T), xã T, tỉnh Đồng Tháp như sau: "Anh H và vợ là chị T xảy ra mâu thuẫn vào ngày 10/12/2024 nên chị T cùng gia nh ến nhà anh H thu dọn ồ dùng cá nhân của chị T về nhà mẹ ẻ, sau khi chị T dời khỏi nhà th anh H kiểm tra lại số tài sản chung gồm vàng cưới ược cha mẹ hai ên cho 27 chỉ vàng 24 Kra và cùng số vàng vợ chồng dành dụm ược khoảng 42 chỉ vàng 24 Kra và 36,853 chỉ vàng 18 Kra không còn tại n i vợ chồng cất giữ. Qua làm việc và xác minh, ông xác nhận có xảy ra sự việc như anh H tr nh ày, nhưng văn ản ý kiến của ông H2 do người ại diện của anh H giao nộp không ảm ảo khách quan.

V vậy, có ủ c sở xác ịnh 6,9 lượng vàng 24 Kra ược cất giữ trong tủ quần áo của anh H và chị T, khi chị T i không em vàng theo, Tòa án cấp s thẩm uộc anh H chia tài sản chung ½ của 6,9 lượng vàng 24 Kra là có c sở. Tuy nhiên, phần quyết ịnh của ản án anh H có trách nhiệm giao lại cho chị T ½ tài sản chung là 3,45 lượng (Ba lượng, ốn mư i lăm chỉ) vàng 24 Kra là chưa phù hợp, không tuyên anh H ược sở hữu 3 lượng 4 chỉ 5 phân vàng 24 Kra hiện ang quản lý, sử dụng là thiếu sót. Ngoài ra, ản án tuyên “Kể từ ngày có n yêu cầu thi hành án của người ược thi hành án cho ến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy ịnh tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy ịnh khác” là chưa phù hợp pháp luật và sai về án phí. Do ó, sửa một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị T, anh H không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ ể chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của m nh là có căn cứ. Do ó, yêu cầu kháng cáo của chị T, anh H là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận ịnh trên, Hội ồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của chị T, anh H là không có căn cứ, sửa một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.

Xét ề nghị của ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có một phần căn cứ nên chấp nhận.

Xét ý kiến của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp của chị T là không có căn cứ nên không chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của chị T, anh H không ược chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia nh phúc thẩm theo quy ịnh của pháp luật.

Các phần còn lại của ản án s thẩm không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QU T ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỷ T, anh Lai Nguyễn Hữu H.

2. Sửa một phần ản án hôn nhân gia nh s thẩm số: 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.

2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỷ T ược ly hôn với anh Lai Nguyễn Hữu H.

2.2. Về con chung: Anh Lai Nguyễn Hữu H ược tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lai Nguyễn Gia H1, sinh ngày 01/3/2024. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai ược cản trở.

2.3. Về tài sản chung:

Anh Lai Nguyễn Hữu H ược sở hữu ½ tài sản chung là 3 lượng 4 chỉ 5 phân vàng 24 Kra (Ba lượng ốn chỉ năm phân vàng hai mư i ốn Kra) hiện ang quản lý, sử dụng.

Anh Lai Nguyễn Hữu H có trách nhiệm giao lại cho chị Nguyễn Thị Mỷ T ½ tài sản chung là 3 lượng 4 chỉ 5 phân vàng 24 Kra (Ba lượng ốn chỉ năm phân vàng hai mư i ốn Kra).

2.4. Về nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

2.5. Đ nh chỉ xét xử ối với anh Lai Nguyễn Hữu H yêu cầu chia tài sản chung 0,1 lượng vàng 24 Kra và 36,853 chỉ vàng trang sức 610 gồm 01 dây chuyền, 01 vòng i, 01 ộ vòng xi-men.

2.6. Về án phí s thẩm:

- Chị Nguyễn Thị Mỷ T phải chịu án phí hôn nhân và gia nh 300.000 ồng và án phí về chia tài sản 21.926.000 ồng, tổng cộng 22.226.000 ồng, ược khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ã nộp 7.459.000 ồng theo iên lai thu tạm ứng án phí số 0007220, ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh B nh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp). Như vậy, chị T còn phải nộp thêm số tiền 14.767.000 ồng (Mười ốn triệu ảy trăm sáu mư i ảy ngh n ồng).

- Anh Lai Nguyễn Hữu H phải chịu án phí về chia tài sản 21.926.000 ồng, ược khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ã nộp 10.327.000 ồng theo iên lai thu tạm ứng án phí số 0001381, ngày 11/8/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh B nh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp). Như vậy, anh H còn phải nộp thêm số tiền 11.599.000 ồng (Mười một triệu năm trăm chín mư i chín ngh n ồng).

3. Về án phí phúc thẩm:

Chị Nguyễn Thị Mỷ T phải chịu 300.000 ồng án phí hôn nhân gia nh phúc thẩm, ược khấu trừ 300.000 ồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo ã nộp theo iên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004280, ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Anh Lai Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000 ồng án phí hôn nhân gia nh phúc thẩm, ược khấu trừ 300.000 ồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo ã nộp theo iên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005874, ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp ản án ược thi hành theo quy ịnh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người ược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy ịnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án ược thực hiện theo quy ịnh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các phần còn lại của ản án s thẩm không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ