- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Nguyên đơn bà Phùng Thị M và bị đơn bà Lương Thị B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn bà Phùng Thị M; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32 202 DS-ST ngà 29-9-202 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Ban hành một số biểu mẫu trong…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2026/DS-PT Ngày 12-3-2026 V/v Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu xác định tài sản là tài sản riêng. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Đức Chính
Các Thẩm phán: Ông Vi Đức Trí
Bà Nguyễn Thị Minh Thuỳ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2025 về việc Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu xác định tài sản là tài sản riêng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32 202 DS-ST ngà 29 tháng 9 năm 202 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13 2026 QĐ-PT ngày 27-01-2026, Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 3 2026 QĐ-PT ngày 12-2-2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị M, sinh năm 1968; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25-4-2021. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Bà Hà Thị H, sinh năm 196 ; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 08-5-2025. Cư trú tại: Khối Đ, phường T, tỉnh Lạng Sơn (văn bản uỷ quyền ngày 30-10-2024). Có mặt.
2. Ông Hà Đức A, sinh năm 1987. Cư trú tại: Thôn H, xã C, tỉnh Lạng Sơn (văn bản uỷ quyền ngày 30-10-2024). Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Phạm Đình T - Luật sư Công ty luật trách nhiệm hữu hạn N - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Đường K, phường T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Ông Vũ Đức T - Luật sư Công ty luật trách nhiệm hữu hạn N - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Đường K, phường T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lương Thị B, sinh năm 1936; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25-4-2021. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
1. Anh Phùng Văn T, sinh năm 1991; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25-4-2021. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn (văn bản uỷ quyền ngày 21-10-2024). Có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 20-4-2021. Cư trú tại: Số **, đường L, khối **, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn (văn bản uỷ quyền ngày 25-10-2024). Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
1. Bà Lương Thị Hương L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Bà Nguyễn Ngọc A - Luật sư Công t luật trách nhiệm hữu hạn T - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Phường H, thành Phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phùng Thị V, sinh năm 1970. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1991. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn (văn bản uỷ quyền ngày 21-10-2024). Có mặt.
2. Anh Phùng Văn T, sinh năm 1991; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25-4-2021. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
3. Bà Lưu Thị M, sinh năm 1962. Cư trú tại: Thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
4. Chị Phùng Thị C, sinh năm 1983; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 19-3-2024. Cư trú tại: Thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
5. Chị Phùng Thị T, sinh năm 1986; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 29-4-2021. Cư trú tại: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
6. Chị Phùng Thị G, sinh năm 1991; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 09-3-2022; cư trú tại: Thôn V, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
7. Anh Phùng Văn Q, sinh năm 1996. Cư trú tại: Thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
8. Ông Triệu Văn T, sinh năm 1964. Cư trú tại: Số nhà ***, thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
9. Chị Nông Thị K, sinh năm 1989; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 13-8-2021. Cư trú tại: Thôn D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
10. Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là UBND xã Đ, tỉnh Lạng Sơn).
Người đại diện hợp pháp: Ông Hứa Văn Minh K - Chuyên viên Phòng Kinh tế xã Đ, tỉnh Lạng Sơn (văn bản ủy quyền ngày 29-7-2025). Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Phùng Thị M, là ngu ên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:[
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện: Đất tranh chấp có diện tích 188,2m², trong đó có 186,2m2 thuộc một phần thửa đất số 32 và 02m2 thuộc một phần thửa đất số , cùng tờ bản đồ số 17b, thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn. Tài sản trên đất gồm có: 01 căn nhà 03 tầng, có 01 sân phơi trên tầng ba; 01 nhà tạm phía sau nhà chính, tường xây gạch chỉ, mái lợp tôn. Giá trị đất tranh chấp được xác định là đất ở, có giá trị là 2 .000.000 đồng/m2. Tài sản trên đất có tổng giá trị là 897.003.3 2 đồng.
Nguyên đơn bà Phùng Thị M trình bày: Ngu ên đơn là con gái của bị đơn, bố mẹ ngu ên đơn là ông Phùng Văn B (chết năm 1990) và bà Lương Thị B có 04 người con, gồm: Phùng Văn S (chết năm 2011), Phùng Văn C (chết năm 2009), Phùng Thị M, Phùng Thị V. Trước năm 1979, khu vực đất tranh chấp là khu vực người Hoa ở. Sau sự kiện chạy Tàu năm 1979 thì đất bỏ hoang. Cuối năm 1986, gia đình ngu ên đơn gồm bố mẹ ngu ên đơn cùng ngu ên đơn, ông Phùng Văn S, ông Phùng Văn C đi khai hoang, phát cỏ, dọn dẹp đất. Thời điểm khai hoang, trên đất chỉ có cỏ, không có gì khác. Năm 1987, ngu ên đơn kết hôn với ông Hà Văn T. Năm 1989, sau khi kết hôn ngu ên đơn vẫn ở cùng bố mẹ, còn chồng ngu ên đơn sinh sống ở thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn, ngu ên đơn đã cùng bố mẹ dựng 01 ngôi nhà tranh để ở tạm (viết tắt là ngôi nhà tạm). Những người từng sinh sống ở ngôi nhà tạm gồm: Bị đơn, ngu ên đơn, bà Phùng Thị V, ông Triệu Văn T (chồng bà Phùng Thị V), anh Phùng Văn T (con bà Phùng Thị V), anh Phùng Văn Q (con bà Phùng Thị V). Khoảng năm 1994-1995, nhà tạm bị dột nát, ngu ên đơn đã mua tấm lợp proximăng về lợp lại mái ngôi nhà tạm, rồi xây nhà cấp 4 ở phía đằng sau nhà tạm (cách 02-03 nhà) để vợ chồng ngu ên đơn tách ra ở riêng.
Năm 2010, ngu ên đơn gọi thợ về phá ngôi nhà tạm để xây dựng nhà 03 tầng hiện nay trên đất tranh chấp. Toàn bộ chi phí xây dựng ngôi nhà 03 tầng là 9 0.000.000 đồng đều là tiền riêng của ngu ên đơn bỏ ra, nguồn tiền do nguyên đơn buôn bán mà có, ngu ên đơn thương mẹ phải ở ngôi nhà dột nát nên xây nhà mới cho mẹ ở. Khi xây xong, bị đơn và anh Phùng Văn T sinh sống tại ngôi nhà 03 tầng; còn bà Phùng Thị V đang đi tù ở Trung Quốc. Khoảng năm 2014-2015, bà Phùng Thị V về Việt Nam thì sinh sống tại ngôi nhà 03 tầng.
Bị đơn đi kê khai và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đâ viết tắt là GCNQSDĐ) mang tên bà Lương Thị B đối với thửa 32 vào năm 201 . Ngu ên đơn biết việc bị đơn đi kê khai và được cấp GCNQSDĐ thửa 32, nhưng do không hiểu biết pháp luât nên ngu ên đơn không có ý kiến gì. Ngu ên đơn xác nhận có việc bị đơn được Nhà nước bồi thường tiền thu hồi đất. Bị đơn đã gửi tiền được bồi thường vào Ngân hàng, sau đó bị đơn rút tiền ra chia cho ông Phùng Văn S, bà Phùng Thị V, anh Phùng Văn T, anh Phùng Văn Q. Ngu ên đơn cũng thừa nhận đã trình bà nội dung “Tài sản này là của mẹ tôi là bà Lương Thị B, tôi không tranh chấp với mẹ tôi” tại Biên bản làm việc ngày 29-8-2023 của UBND thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn khi bị đơn đề nghị cấp lại GCNQSDĐ do GCN được cấp năm 201 bị thất lạc. Tranh chấp phát sinh kể từ khi có thông tin bị đơn có di chúc để lại tài sản tranh chấp cho anh Phùng Văn T, bởi ngu ên đơn xác định thửa đất số 32 là tài sản chung của gia đình và tài sản trên thửa đất số 32 được tạo dựng bằng tiền riêng của ngu ên đơn, nên ngu ên đơn êu cầu giải quyết tranh chấp. Quá trình hoà giải tại cơ sở, bị đơn đều vắng mặt tại 02 buổi hoà giải, UBND thị trấn Đ kết luận hoà giải không thành, do đó ngu ên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tại Toà án.
Tại đơn khởi kiện và các đơn khởi kiện bổ sung, ngu ên đơn êu cầu Toà án giải quyết: Yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất số 32 và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà; chia thành 04 phần bằng nhau, chia cho: Nguyên đơn, bị đơn, bà Phùng Thị V, vợ con của ông Phùng Văn S; ngu ên đơn êu cầu được chia bằng hiện vật và sẽ thanh toán giá trị cho những người được chia tài sản chung.
Sau khi có kết quả đo đạc và kết luận giám định, ngu ên đơn rút êu cầu khởi kiện đối với diện tích 2m2 thuộc một phần thửa đất số 6. Ngu ên đơn êu cầu Toà án chia tài sản chung đối với thửa đất số 32 theo diện tích đo đạc thực tế là 186,2m2 và tài sản gắn liền với đất: 01 nhà 03 tầng, 01 sân phơi, 01 ngôi nhà tạm, có tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 5.552.003.352 đồng; chia thành 04 phần bằng nhau, chia cho: Ngu ên đơn, bị đơn, bà Phùng Thị V, vợ con của ông Phùng Văn S; ngu ên đơn êu cầu được chia bằng hiện vật và sẽ thanh toán giá trị cho những người được chia tài sản chung theo phần tương đương với số tiền là 1.388.000.838 đồng phần.
Tại phiên toà sơ thẩm, ngu ên đơn tha đổi một phần êu cầu khởi kiện, ngu ên đơn êu cầu được sở hữu riêng đối với tài sản trên thửa đất số 32, gồm: Căn nhà 03 tầng, sân phơi và ngôi nhà tạm, vì cho rằng toàn bộ số tiền để tạo lập các tài sản gắn liền với thửa đất số 32 đều là tiền riêng của ngu ên đơn. Nguyên đơn êu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất số 32 và êu cầu được chia bằng hiện vật.
Bị đơn bà Lƣơng Thị B trình bày: Từ năm 1987 khi ngu ên đơn đi lấ chồng đến na , ngu ên đơn chưa một lần đóng góp công sức xâ dựng, tôn tạo đối với thửa đất số 32 và tài sản trên đất. Năm 1994, ngu ên đơn có mua đất, xâ nhà ở đằng sau gần nhà bị đơn, nhưng không thường xu ên đi lại, chăm sóc bị đơn. Do vậ , năm 1990, bị đơn nhận ông Triệu Văn T là chồng của bà Phùng Thị V về ở rể. Thời điểm đó, bị đơn đã già ếu nhưng vẫn xâ nhà, vì xác định xâ nhà để ở và sau nà cho cháu Phùng Văn T thực hiện thờ cúng hương hoả. Đất có nguồn gốc là đất vắng chủ, thời gian sử dụng vào mục đích hiện tại từ năm 1989 và không có tranh chấp. Thửa đất số 32 đã được UBND hu ện C, tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ mang tên bà Lương Thị B vào ngày 25-4-201 . Do bị đơn bị thất lạc GCNQSDĐ nên đã xin cấp lại vào năm 2023. Tại Biên bản làm việc ngà 29-8-2023 tại UBND thị trấn Đ, ngu ên đơn đã thừa nhận tài sản nà là của bị đơn và không có tranh chấp nên sau đó bị đơn đã được cấp lại GCNQSDĐ mang tên bà Lương Thị B vào ngày 10-10-2023. Toàn bộ số tiền bỏ ra để xâ dựng ngôi nhà 03 tầng là tiền của bị đơn, do bị đơn được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất của bị đơn và một phần tiền do bị đơn chu ển nhượng đất cho người khác mà có. Bị đơn đưa tổng cộng khoảng 1.800.000.000 đồng cho ngu ên đơn để giúp bị đơn thanh toán tiền công thợ, tiền mua vật liệu là khoảng 9 0.000.000 đồng, số tiền còn lại ngu ên đơn đã gửi vào Ngân hàng. Bị đơn xác định thửa đất số 32 và tài sản trên đất là của bị đơn, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên bị đơn nên không đồng ý đối với toàn bộ êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị V trình bày: Thửa đất số 32 và tài sản có trên đất là tài sản riêng của bị đơn. Bị đơn đã được cấp GCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất. Cuối năm 2009, ngu ên đơn có sang Trung Quốc gặp bà để bàn sử dụng số tiền 400.000.000 đồng xây nhà cho bị đơn. Cuối năm 2010, ngu ên đơn và anh Phùng Văn T sang Trung Quốc gặp bà và cho bà xem ảnh chụp ngôi nhà đã hoàn thiện. Bà có thắc mắc tại sao xây nhà to thế thì ngu ên đơn nói là bị đơn được đền bù thêm số tiền 1.200.000.000 đồng và bán thêm mảnh đất, sau khi chia ra thì giữ được thêm 1 0.000.000 đồng và đã đưa toàn bộ số tiền nà cho ngu ên đơn để xây nhà. Khi bà về Việt Nam, ngu ên đơn có nói với bà tổng số tiền ngu ên đơn giúp bị đơn thanh toán tiền công thợ, mua vật liệu là khoảng 9 0.000.000 đồng, số tiền còn lại bị đơn đã gửi vào Ngân hàng. Do đó, bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lƣu Thị M, chị Phùng Thị C, chị Phùng Thị T, chị Phùng Thị G, anh Phùng Văn T đều trình bày: Tài sản ngu ên đơn êu cầu chia là tài sản riêng của bị đơn, không phải là tài sản chung, nên đều không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Văn Q nhất trí với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn T, chị Nông Thị K đều trình bày không biết gì về nguồn gốc đất.
Theo Kết luận giám định tư pháp xác định: Diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 32 là 186,2m2. Diện tích đất tranh chấp nằm trùng vào một phần thửa đất số 6 là 2,0m2. Khu đất tranh chấp không chồng lấn với thửa đất nào khác trên bản đồ quản lý đất đai qua các thời kỳ của thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32 202 DS-ST ngà 29-9-202 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã qu ết định:
Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn bà Phùng Thị M về việc êu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ địa chính số 17b, thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn (na là xã Đ, tỉnh Lạng Sơn và êu cầu được sở hữu riêng tài sản gắn liền với thửa đất số 32 gồm: 01 căn nhà cấp III, loại 1, 03 tầng, 01 sân phơi, 01 ngôi nhà tạm.
Đình chỉ xét xử đối với đất có diện tích 2m2 có vị trí đỉnh thửa D-E-F-G-H thuộc một phần thửa đất số 6, tờ bản đồ số 17b, thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn (na là xã Đ, tỉnh Lạng Sơn). Đương sự có quyền khởi lại theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và qu ền êu cầu thi hành án của các đương sự.
Trong thời hạn luật định, ngu ên đơn bà Phùng Thị M kháng cáo, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc huỷ Bản án sơ thẩm nếu Bản án sơ thẩm có những sai phạm nghiêm trọng về nội dung và tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngu ên đơn bà Phùng Thị M đề nghị tạm ngừng phiên toà để thu thập tài liệu chứng cứ bổ sung. Trường hợp không tạm ngừng phiên toà, đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm do có các vi phạm về tố tụng và nội dung chưa được làm rõ tại cấp sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của ngu ên đơn bà Phùng Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tha đổi nội dung kháng cáo, đề nghị tạm ngừng phiên toà để thu thập tài liệu chứng cứ bổ sung. Trường hợp không tạm ngừng phiên toà, đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không nhất trí với toàn bộ nội dung kháng cáo, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn do không có cơ sở chấp nhận, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Văn Q nhất trí với ý kiến và yêu cầu kháng cáo của ngu ên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải qu ết vụ án cụ thể như sau:
1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải qu ết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng qu định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đã được thực hiện đầ đủ các qu ền và nghĩa vụ của mình.
2. Về việc giải qu ết kháng cáo: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự, thấy rằng: Các ý kiến về việc thu thập tài liệu của phía nguyên đơn là không có căn cứ, yêu cầu thu thập thêm tài liệu xét thấy không cần thiết. Về nội dung, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định và giải quyết thiếu quan hệ pháp luật về chia thừa kế là không có cơ sở, vì theo đơn khởi kiện của ngu ên đơn và thủ tục thụ lý, giải quyết thì ngu ên đơn đều không có yêu cầu về chia thừa kế.
Xét về nguồn gốc đất tranh chấp, bà Lương Thị B đã được cấp GCNQSDĐ ngày 25-4-2015, GCNQSDĐ nà đã bị huỷ do bị thất lạc. Ngày 10-10-2023, bà Lương Thị B được cấp lại GCNQSDĐ. Năm 201 , việc cấp GCNQSDĐ cho bà Lương Thị B không có ai khiếu nại. Đồng thời, bà Phùng Thị M trình bày có biết năm 201 bà Lương Thị B đi kê khai và được cấp cấp riêng GCNQSDĐ cho bà Lương Thị B đối với thửa đất số 32, nhưng bà Phùng Thị M không có ý kiến gì. Mặt khác, năm 2023 khi bà Lương Thị B thực hiện thủ tục cấp lại GCNQSDĐ thì chính bà Phùng Thị M đã thừa nhận thửa đất số 32 là tài sản của bà Lương Thị B, bà Mai không có tranh chấp với bà Lương Thị B. Do đó bà Lương Thị B đã được cấp lại GCNQSDĐ đối với thửa đất số 32. Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất số 32 thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Lương Thị B.
Xét về quá trình sử dụng đất, bà Lương Thị B đã trực tiếp quản lý, sử dụng liên tục thửa đất số 32 mà không có ai ngăn cản hay tranh chấp. Bà Phùng Thị M đi lấy chồng từ năm 1987 đã không sinh sống hoặc tham gia quản lý, sử dụng đất tranh chấp. Việc tranh chấp chỉ phát sinh khi bà Phùng Thị M có thông tin về việc bà Lương Thị B muốn lập di chúc để lại tài sản cho anh Phùng Văn T. Do đó, có căn cứ xác định bà Lương Thị B có quá trình quản lý, sử dụng liên tục, ổn định đối với thửa 32 và tài sản gắn liền với đất.
Xét về tài sản trên đất, bà Phùng Thị M cho rằng toàn bộ tài sản gắn liền với đất là do bà tạo lập. Chỉ có bà là người bỏ tiền ra tạo lập, không có việc bà Lương Thị B đưa tiền cho bà để tạo lập, xây dựng tài sản. Tuy nhiên, bà Lương Thị B là người trực tiếp quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản từ năm 2010 cho đến nay. Thực tế bà Phùng Thị M đã không sinh sống tại ngôi nhà có tranh chấp. Bà không tham gia quản lý, sử dụng đối với tài sản gắn liền với đất. Năm 2010, bà Phùng Thị M đang sinh sống ở ngôi nhà cấp 4 phía sau ngôi nhà bà Lương Thị B đang ở. Bà Lương Thị B thừa nhận được đưa tiền cho bà Phùng Thị M để hộ làm nhà, bà Phùng Thị M thì cho rằng bà là người bỏ tiền ra để xây nhà cho bà Lương Thị B. Bà Phùng Thị M không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc số tiền mà bà đã bỏ ra để tạo lập, xây dựng tài sản gắn liền với thửa đất số 32. Mặt khác, quá trình xây nhà, mua nguyên vật liệu cũng như trao đổi với anh chị em trong gia đình, bà Phùng Thị M luôn thừa nhận việc đứng ra giúp bà Lương Thị B làm nhà, còn tiền là của bà Lương Thị B, điều đó phù hợp với lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Do đó, Phùng Thị M cho rằng toàn bộ tài sản gắn liền với đất là do bà tạo lập là không có cơ sở.
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn là có cơ sở, ngu ên đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, qua kiểm sát Bản án sơ thẩm thấy rằng có một số nội dung còn thiếu sót, VKSND khu vực 1 đã ban hành Kiến nghị với nội dung:
- Tại mục I phần Quyết định Bản án xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị M về yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ địa chính số 17-B và yêu cầu được sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất số 32 gồm: 01 căn nhà cấp III, loại 1, 03 tầng, 01 sân phơi, 01 ngôi nhà tạm nhưng không tuyên cụ thể diện tích đất không được chấp nhận là bao nhiêu, vị trí, đỉnh, điểm, tứ cận tiếp giáp của diện tích đất tranh chấp cũng như vị trí, đỉnh, điểm của công trình nhà cấp III, nhà tạm trên đất là thiếu sót, khó khăn cho việc thi hành án.
- Bản án không nhận định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng tại phần quyết định lại áp dụng Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là chưa nhận định đầ đủ về áp dụng pháp luật tố tụng và mâu thuẫn. Đồng thời, tại mục [1] bản án nhận định về sự vắng mặt của người làm chứng nhưng không áp dụng khoản 2 Điều 229 về xét xử vắng mặt người làm chứng là thiếu sót. Việc không nhận định và không áp dụng đầ đủ căn cứ pháp luật là thực hiện chưa đúng hướng dẫn tại mục (26), (27) mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngà 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).
- Áp dụng thiếu khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 32/2025/DS-ST ngày 29-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn về nội dung nêu trên. Về án phí dân sự phúc thẩm, kháng cáo không được chấp nhận nhưng do sửa Bản án sơ thẩm nên ngu ên đơn không phải chịu án phí phúc thẩm theo qu định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo uỷ quyền có mặt hoặc có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 , Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
[2] Ngu ên đơn bà Phùng Thị M kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn hoặc huỷ Bản án sơ thẩm nếu Bản án sơ thẩm có những sai phạm nghiêm trọng về nội dung và tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ngu ên đơn vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của ngu ên đơn là bà Hà Thị H tha đổi nội dung kháng cáo, đề nghị tạm ngừng phiên toà để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp không tạm ngừng phiên toà, đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm. Xét văn bản ủy quyền ngày 30-10-2024 giữa bà Phùng Thị M và bà Hà Thị H là hợp lệ, nội dung ủy quyền bao gồm bà Hà Thị H thay mặt bà Phùng Thị M tham gia xét xử tại Tòa án và đưa ra các yêu cầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phùng Thị M. Xét nội dung tha đổi kháng cáo tại phiên tòa không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của ngu ên đơn đề nghị tạm ngừng phiên toà để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc huỷ Bản án sơ thẩm, thấy rằng:
[4] Về đất tranh chấp: Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định đất tranh chấp có diện tích 186,2m2 thuộc thửa đất số 32. Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 32 thể hiện: Ngà 2 -4-201 , bị đơn bà Lương Thị B được UBND hu ện C, tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 32, diện tích 188,7m² đất ở tại đô thị. Ngà 12-6-2023, bà Lương Thị B có đơn xin cấp lại GCNQSDĐ do GCNQSDĐ cấp ngà 25-4-2015 bị thất lạc. Ngày 09-10-2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hu ện C đã ban hành Qu ết định số 1087 huỷ GCNQSDĐ cấp ngà 25-4-2015 mang tên bà Lương Thị B và cấp lại GCNQSDĐ ngà 10-10-2023 mang tên bà Lương Thị B đối với thửa đất số 32. Xét thấ , quá trình cấp GCNQSDĐ lần đầu ngà 2 -4-2015, ngu ên đơn thừa nhận có biết việc cấp GCNQSDĐ đối với thửa 32 cho riêng bị đơn nhưng ngu ên đơn không có khiếu nại gì. Quá trình cấp đổi GCNQSDĐ vào năm 2023, ngu ên đơn đã có đơn xin rút toàn bộ kiến nghị về tranh chấp đất đai đối với thửa đất số 32 và đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hu ện C tiếp tục giải qu ết theo qu định của pháp luật, do đó bị đơn đã được cấp lại GCNQSDĐ đối với thửa đất số 32 vào ngày 10-10-2023. Ngoài ra, chồng của bị đơn là ông Phùng Văn B đã chết năm 1990, chết trước thời điểm bị đơn được cấp GCNQSDĐ lần đầu vào ngày 25-4-201 . Do đó, có căn cứ xác định thửa đất số 32 thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị đơn theo GCNQSDĐ đã được cấp mang tên bà Lương Thị B.
[5] Về tài sản trên đất tranh chấp: Ngu ên đơn tài sản trên đất tranh chấp là 01 ngôi nhà 03 tầng do ngu ên đơn bỏ tiền ra tạo lập, không có việc bị đơn đưa tiền cho ngu ên đơn để tạo lập, xâ dựng. Tu nhiên, các đương sự trong vụ án đều thừa nhận bị đơn là người trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản trên đất từ năm 2010. Năm 2015, khi trên đất tranh chấp đã tồn tại tài sản là ngôi nhà như hiện na , thì bị đơn đã được cấp GCNQSDĐ đối với đất tranh chấp. Bị đơn đã trực tiếp quản lý sử dụng đất và tài sản trên đất từ năm 2010 đến na . Còn ngu ên đơn đã chu ển ra ở riêng từ năm 2010 và không quản lý, sử dụng tài sản trên đất. Ngu ên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc số tiền mà ngu ên đơn bỏ ra để tạo lập, xây dựng tài sản trên thửa đất số 32. Quá trình xây nhà, khi mua nguyên vật liệu cũng như trao đổi với anh chị em trong gia đình, ngu ên đơn luôn thừa nhận việc đứng ra giúp bị đơn làm nhà, còn tiền là của bị đơn, điều đó phù hợp với lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Tại cấp phúc thẩm, ngoài lời trình bà , ngu ên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho êu cầu kháng cáo. Do đó, không có căn cứ xác định ngôi nhà trên thửa đất số 32 là tài sản riêng của ngu ên đơn.
[6] Đối với đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung của phía ngu ên đơn, thấy rằng việc thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung là không cần thiết, không làm tha đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên toà. Đối với ý kiến của phía ngu ên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải qu ết thiếu êu cầu chia di sản thừa kế, thấ rằng tại cấp sơ thẩm ngu ên đơn không êu cầu giải qu ết về chia thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không thụ lý, giải qu ết về nội dung nà . Đối với ý kiến của nguyên đơn đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm và ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, thấ rằng Bản án sơ thẩm không có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, nội dung giải quyết không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn là có căn cứ nên không có căn cứ để hủ Bản án sơ thẩm; đối với một số thiếu sót của Bản án sơ thẩm không làm tha đổi bản chất vụ án, Bản án sơ thẩm tu ên không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ địa chính số 17b, thửa đất nà đã được cấp GCNQSDĐ cho ngu ên đơn, do đó trường hợp nà không gâ khó khăn cho việc thi hành án, nên không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn, giữ ngu ên Bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo qu định của pháp luật.
[8] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, ý kiến nào là phù hợp với nhận định trên thì được chấp nhận, ý kiến nào không phù hợp với nhận định trên thì không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 ;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn bà Phùng Thị M; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32 202 DS-ST ngà 29-9-202 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phùng Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận bà Phùng Thị M đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000562 ngày 17-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm, TAND tối cao tại Hà Nội; - Viện phúc thẩm, VKSND tối cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - TAND khu vực 1 - Lạng Sơn; - VKSND khu vực 1 - Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 1 - Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Tòa DS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Đức Chính |