vanban.org

Bản án 28/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đinh Ngọc D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2024. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HSST
Ngày 24/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Hà Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Chuẩn, Kiểm sát viên.

Ngày 24/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 28/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 05/4/2025 đối với bị cáo:

Đinh Ngọc D sinh năm 1983; tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú số nhà 06, ngõ 141, đường N, phố P, phường P, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q (đã chết) và bà Vũ Thị L (đã chết); vợ con chưa có. Tiền án ngày 22/10/2003 bị Toà án nhân dân thị xã Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 28/01/2005 bị Toà án nhân dân thị xã Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 03/12/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 26/10/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tiền sự ngày 22/05/2017 bị Công an phường Tân Thành xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” chưa chấp hành. Lịch sử bản thân ngày 28/6/2002 bị Công an huyện Y xử phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 26/12/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Quốc H1 sinh năm 1997; vắng mặt.

- Anh Trịnh Văn H2 sinh năm 1988; vắng mặt.

- Anh Trần Văn H3 sinh năm 1960; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

D là người nghiện ma túy. Đầu tháng 12/2024 D mua của một người không quen biết 01 túi nilon ma tuý loại Methamphetamine với số tiền là 800.000 đồng; sau đó D mang về nhà cất giấu để sử dụng.

Trưa ngày 17/12/2024 D lấy túi nilon ma túy nêu trên bỏ vào bên trong của vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng, rồi bỏ vào túi quần phía sau bên phải đang mặc và điều khiển xe mô tô Yamaha Taurus biển kiểm soát 29G1-137.98 để đi đón bạn. Khoảng 12 giờ cùng ngày khi D điều khiển xe mô tô đi đến địa phận thôn Phú Cường, xã Khánh Phú thì bị Công an xã Khánh Phú dừng xe để kiểm tra, D nói “em có tí hàng vừa mua về để chơi, xin các anh bỏ qua”. Công an xã Khánh Phú yêu cầu D giao nộp đồ vật cất dấu trên người nhưng D không chấp hành, nên Công an xã Khánh Phú kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của D đang mặc gồm “01 vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng bên trong có 01 túi nilon chứa chất dạng tinh thể màu trắng tiến hành niêm phong phong ký H1 QT; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 căn cước công dân mang tên Đinh Ngọc D, 01 thẻ Card Visit”; thu giữ tại mặt đường bên cạnh người D “01 đồng hồ và 01 điện thoại di động”. Công an xã Khánh Phú tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật thu giữ đối với D, nhưng D không ký vào các biên bản.

Cơ quan điều tra Công an huyện Y mở niêm phong mẫu ký H1 QT thu giữ của D để cân xác định khối lượng: Khối lượng cả bì là 0,95 gam, khối lượng bì là 0,64 gam, khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng là 0,31 gam, sau đó niêm phong lại ký H1 QT1 và gửi toàn bộ mẫu để trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 58/KL-KTHS-MT ngày 23/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu gửi giám định ký H1 QT1 có khối lượng 0,3085 gam, là ma tuý loại Methamphetamine; Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cáo trạng số 20/CT-VKSYK ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày Luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo D như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo D từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2024.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định, 01 túi nilon, 01 vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Trả lại cho bị cáo D “01 điện thoại nhãn H1 VsMart, 01 căn cước công dân mang tên Đinh Ngọc D, 01 thẻ Card Visit, 01 đồng hồ, 01 xe mô tô nhãn H1 Yamaha Taurus biển kiểm soát 29G1-137.98 và số tiền 20.000 đồng”.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo D khai: Đầu tháng 12/2024 D mua 01 túi nilon ma tuý với mục đích để sử dụng; ngày 17/12/2024 D bỏ túi nilon ma tuý vào túi quần đang mặc mang, rồi điều kiển xe mô tô đi đón bạn; khi đi đến thôn Phú Cường, xã Khánh Phú thì gặp Công an xã Khánh Phú đã kiểm tra và thu giữ. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn truy tố; phù hợp với với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo và vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2024 tại khu vực thôn Phú Cường, xã Khánh Phú; D cất giữ trái phép trong túi quần của D đang mặc 0,3085 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng.

Hành vi của bị cáo D là trái pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; do bị cáo D đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

..…

o) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo D về tội danh và điều luật như Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng. Về giảm nhẹ “Trong giai đoạn truy tố và tại phiên toà thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những tình tiết phân tích nêu trên; căn cứ vào nhân thân của bị cáo và khối lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo D có 01 tình tiết giảm nhẹ, nên giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo tương ứng với mức giảm nhẹ của tình tiết mà bị cáo được hưởng.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “01 xe mô tô Yamaha Taurus biển kiểm soát 29 G1-137.98; 01 điện thoại VsMart; 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Ngọc D; 01 thẻ Card Visit; 01 đồng hồ; 0,3085 gam là ma tuý loại Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng”.

- Xe mô tô Yamaha Taurus biển kiểm soát 29 G1-137.98, 01 điện thoại VsMart, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Ngọc D, 01 thẻ Card Visit, 01 đồng hồ và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Kết quả điều tra xác định đều là tài sản và giấy tờ của D, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo D.

- Đối với 0,3085 gam ma túy loại Methamphetamine sau giám định Cơ quan giám định chỉ hoàn lại 0,2291 gam; 01 vỏ túi nilon; 01 vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; tất cả tịch thu tiêu huỷ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì; nên hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo D bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đinh Ngọc D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2024.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong ký H1 N bên ngoài có ghi “01 túi nilon… + vỏ phong bì ký H1 QT + 01 vỏ bao thuốc lá loại Ngựa trắng”; 01 phong bì Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 58/KL-KTHS-MT bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả gồm QT1= 0,2291 gam là ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong”.

Trả lại cho bị cáo Đinh Ngọc D: 01 điện thoại nhãn H1 VsMart được niêm phong trong phong bì ký H1 GT1; 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Ngọc D, 01 thẻ Card Visit, 01 đồng hồ được niêm phong trong phong bì ký H1 TG2A; 01 xe mô tô Yamaha Taurus biển kiểm soát 29G1-137.98 và số tiền là 20.000 đồng.

Toàn bộ vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và giấy nộp tiền ngày 03/3/2025 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Y nam Ninh Bình.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Ngọc D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời H1 thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ