- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Thuỳ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐI, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đức Cảnh
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố P, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố I, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố I, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1993 tại I; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Cồn Tầu, thị trấn I, huyện P, tỉnh I; nơi ở: Tổ dân phố 8, phường P, thành phố P, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kiền và bà Đoàn Thị Tâm; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 69/2015/HSST ngày 26/8/2015 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh I xử phạt Trần Văn T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2017. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 06/10/2015 (đã xoá án tích); Bản án số 54/2018/HSST ngày 16/3/2018 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xử phạt Trần Văn T 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2019. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 16/3/2018 (đã xoá án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Liễu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố I.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên Thuỳ thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 21/10/2024, Thuỳ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K5-6934 từ khu ký túc xá Vũ Yên 2 - Công trường dự án Vinhomes Vũ Yên sang chân cầu Bính thuộc nội thành Hải Phòng mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, Thuỳ gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Thuỳ cầm ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về công trường Dự án Vinhomes Vũ Yên để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ tại lòng bàn tay trái của Trần Văn T có 01 gói giấy bạc bọc ngoài bằng nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 xe mô tô biển kiểm soát 16K5-6934, kiểm tra xe mô tô không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Trần Văn T.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T Cơ quan điều tra không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 1234/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn T là ma túy, có khối lượng 0,36 gam, là loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTN ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố I, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố I luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn T như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1234MT/PC09 chứa 0,28 gam Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên và nhất trí với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố I tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố I, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố I, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an thành phố I lập ngày 21/10/2024, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Ngày 21/10/2024 Trần Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, bị phát hiện bắt quả tang tại công trường Dự án Vinhomes Vũ Yên thuộc thôn 8, xã Thuỷ Triều nay là phường P, thành phố P, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Trần Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Khối lượng ma túy thu giữ của Trần Văn T là 0,36 gam Heroine. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố và đề nghị kết tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố I đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức của con người, là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác nên cần phải xét xử nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Bản thân bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xử phạt mức án là hình phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý thể hiện bị cáo chưa chấp hành pháp luật nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xác định: Đối với 01 phong bì niêm phong số 1234MT/PC09 chứa 0,28 gam ma tuý Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này còn có đối tượng đã bán trái phép ma tuý cho Trần Văn T. Quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16K5-6934 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã tách ra điều tra, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1234MT/PC09 chứa 0,28 gam Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố P; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an TP. P; - Cơ quan THAHS Công an TP. P; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS thành phố P; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND cấp xã (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |