- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 29 -9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Vận;
Ông Bùi Văn Khiêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Hoàng Văn L, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1975 tại xã K, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn); đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã K, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L1 (đã chết) và bà Nông Thị N; chung sống như vợ chồng với bà Nông Thị D (không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền) và có 02 con (con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001); tiền án (02 tiền án): Bị xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 19/2017/HSST ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 26/8/2019 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, chưa được xoá án tích, tiếp tục bị xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 63/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 30/10/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Bị xử phạt 05 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 36/2008/HS-ST ngày 22/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 26/10/2008 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích, bị xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc tại Bản án số 51/2008/HS-ST ngày 10/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2025 đến ngày 08/6/2025 chuyển tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực L - Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nông Thị D, sinh năm 1978, cư trú tại: Thôn P, xã K, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Văn L là đối tượng sử dụng chất ma túy Heroin từ năm 2009 đến nay. Khoảng 15 giờ 00 ngày 01/6/2025, bị cáo Hoàng Văn L một mình điều khiển xe ôtô nhãn hiệu KIA Morning, BKS 15A - 356.45 đi từ thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản P, xã K, tỉnh Lạng Sơn) đến khu vực ngõ C, đường N, phường V, TP L, tỉnh Lạng Sơn (nay là phường Đ, tỉnh Lạng Sơn) để tìm mua ma túy Heroin về sử dụng. Đến nơi, bị cáo Hoàng Văn L gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) và nhờ người này mua hộ ma túy Heroin với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thì người này đồng ý. Bị cáo Hoàng Văn L đưa tiền cho người đàn ông này, người này cầm tiền đi đâu đó khoảng 20 phút sau thì quay lại đưa cho bị cáo Hoàng Văn L 01 (một) túi nilon chứa ma túy Heroin. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo Hoàng Văn L đem về nhà lấy ra một phần ma túy để sử dụng cho bản thân.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/6/2025, bị cáo Hoàng Văn L điều khiển xe ô tô BKS 15A-356.45 đi từ nhà theo đường liên thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, thôn Bản R và thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để đi ra thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi, bị cáo Hoàng Văn L có cất giấu túi ma túy Heroin đã mua ngày 01/6/2025 vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người của bị cáo. Khoảng 09 giờ 40, cùng ngày, bị cáo Hoàng Văn L đi đến khu vực thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản P, xã M, tỉnh Lạng Sơn) thì bị Công an xã T và Công an xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Đồn Biên phòng Cửa khẩu C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn phối hợp phát hiện, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 07cm x 04cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu sơn ghi, biển kiểm soát 15A-35645, số máy: G4HEA779377, số khung: 514BBT037902 (xe cũ đã qua sử dụng, bị xước sơn nhiều chỗ, không kiểm tra chi tiết máy bên trong); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HONOR, màu xanh, số máy: IMEI 1: 869899078226581, số I: 869899078275596, lắp 02 sim số thuê bao 0332.413.175 và 0362.565.734 (máy cũ đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, số IMEI 1: 863880040885676, số IMEI 2: 863880040885668, lắp 02 sim số thuê bao 0333.926.805 và 0828.031.682 (máy cũ đã qua sử dụng) và số tiền 22.800.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 431/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 (một) túi nilon màu trắng (kích thước 07cm x 04 cm) gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 2,745 gam (đã trừ bì).
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã tạm giữ 01 (một) phong bì có chữ viết tay họ - tên của Hoàng Văn L (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) túi nilon đựng 2,535 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu ghi, BKS: 15A- 356.45, số khung 514BBT037902, số máy G4HEA779377, xe cũ đã qua sử dụng, xước sơn nhiều chỗ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HONOR, màu xanh, có số IMEI1: 869899078226571, IMEI2: 869899078275596, lắp 02 sim có số thuê bao 0332.413.175 và 0362.565.734, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, IMEIl: 863880040885676, IMEI2: 863880040885668, lắp 02 sim số thuê bao 0333.926.805 và 0828.031.682, máy cũ đã qua sử dụng (hiện các vật chứng này lưu giữ tại phòng thi hành án dân sự khu vực 5
- Lạng Sơn). Số tiền 22.800.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.09110405.00000 của Phòng CSĐTTP về Ma túy, Công an tỉnh Lạng Sơn mở tại Kho bạc Nhà nước khu vực VI.
Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSKV5 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung Cáo trạng đã tuy tố, mặc dù bị cáo là người đứng tên mua xe nhưng xác định xe ô tô mà bị cáo sử dụng để đi mua ma tuý là tài sản chung của gia đình bị cáo, được mua bằng tiền bán rừng thông của gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nông Thị D trình bày bà và bị cáo Hoàng Văn L chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Bà không biết việc bị cáo sử dụng xe ô tô để đi mua ma tuý, xe là tài sản chung của gia đình, đề nghị Toà án trả lại xe cho gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 và điểm a, c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người sử dụng ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 2,535 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) đựng bên trong 01 (một) túi nilon trong 01 (một) phong bì có chữ viết tay họ - tên của Hoàng Văn L (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HONOR, màu xanh, có số IMEI1: 869899078226571, IMEI2: 869899078275596, lắp 02 sim có số thuê bao 0332.413.175 và 0362.565.734, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, IMEIl: 863880040885676, IMEI2: 863880040885668, lắp 02 sim số thuê bao 0333.926.805 và 0828.031.682, máy cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L số tiền 22.800.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.09110405.00000 của Phòng CSĐTTP về Ma túy, Công an tỉnh Lạng Sơn mở tại Kho bạc Nhà nước khu vực VI. Tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu ghi, BKS: 15A- 356.45, số khung 514BBT037902, số máy G4HEA779377, xe cũ đã qua sử dụng, xước sơn nhiều chỗ. Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn về vật chứng, đề nghị được trả lại xe ô tô nêu trên cho gia đình bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - giữ nguyên quan điểm về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước đối với xe ô tô vì vật chứng này là tài sản của bị cáo, được bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự phải tịch thu vật chứng sung vào ngân sách Nhà nước.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 02/6/2025, tại khu vực thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản P, xã M, tỉnh Lạng Sơn), bị cáo Hoàng Văn L có hành vi tàng trữ 2,745 gam chất ma túy Heroin trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được ma túy Heroin là chất gây nghiện cao, gây tổn hại nghiêm trọng đến trí tuệ, sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có bố là ông Hoàng Văn L1 được Chủ tịch UBND xã T tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2011 - 2015 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có 02 (hai) tiền án: Bị xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 19/2017/HSST ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 26/8/2019 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, chưa được xoá án tích, tiếp tục bị xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 63/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 30/10/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị xử phạt 05 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 36/2008/HS-ST ngày 22/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, ngày 26/10/2008 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích, bị xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc tại Bản án số 51/2008/HS-ST ngày 10/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích; thể hiện bị cáo là người thiếu tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật.
Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 2,535 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) đựng bên trong 01 (một) túi nilon trong 01 (một) phong bì có chữ viết tay họ - tên của Hoàng Văn L (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a và c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HONOR, màu xanh, có số IMEI1: 869899078226571, IMEI2: 869899078275596, lắp 02 sim có số thuê bao 0332.413.175 và 0362.565.734, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, IMEIl: 863880040885676, IMEI2: 863880040885668, lắp 02 sim số thuê bao 0333.926.805 và 0828.031.682, máy cũ đã qua sử dụng và số tiền 22.800.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.09110405.00000 của Phòng CSĐTTP về Ma túy, Công an tỉnh L mở tại Kho bạc Nhà nước khu vực VI không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L theo quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu ghi, BKS: 15A- 356.45, số khung 514BBT037902, số máy G4HEA779377, xe cũ đã qua sử dụng, xước sơn nhiều chỗ, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, hoá giá nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp bà Nông Thị D có tranh chấp với bị cáo về chiếc xe ô tô này thì có quyền khởi kiện bị cáo trong vụ án khác tại Toà án có thẩm quyền.
Đối với người bán ma túy cho Hoàng Văn L ở khu vực chợ Đ, phường V, tỉnh Lạng Sơn do bị cáo không biết được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn L là dân tộc thiểu số (dân tộc Tày) thường xuyên sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà đã có ý kiến xin được miễn nộp tiền án phí hình sự, bị cáo đủ điều kiện được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 06 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 02/6/2025.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 2,535 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) đựng bên trong 01 (một) túi nilon trong 01 (một) phong bì có chữ viết tay họ - tên của Hoàng Văn L (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HONOR, màu xanh, có số IMEI1: 869899078226571, IMEI2: 869899078275596, lắp 02 sim có số thuê bao 0332.413.175 và 0362.565.734, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, IMEIl: 863880040885676, IMEI2: 863880040885668, lắp 02 sim số thuê bao 0333.926.805 và 0828.031.682, máy cũ đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2025)
Tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu ghi, BKS: 15A- 356.45, số khung 514BBT037902, số máy G4HEA779377, xe cũ đã qua sử dụng, xước sơn nhiều chỗ. (Vật chứng trên được lưu giữ tại Công an xã L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2025)
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L số tiền 22.800.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.09110405.00000 của Phòng CSĐTTP về Ma túy, Công an tỉnh L mở tại Kho bạc Nhà nước khu vực VI.
4. Về án phí:
Bị cáo Hoàng Văn L được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 5 - Lạng Sơn; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS tỉnh Lạng Sơn; - Phân trại tạm giam khu vực L; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5- Lạng Sơn; - Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nông Thị Huyền Trang |