vanban.org

Bản án 28/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Liên 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/6/2025. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 -NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Tưu

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Liên; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 02 năm 1991 tại xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm 2, xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Kim Quy (đã chết); Con bà: Trần Thị Hường, sinh năm 1961; Vợ: Lê Thị Trang, sinh năm 1992, con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2025 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 25/6/2025, Nguyễn Văn Liên có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã đi xe ôm từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc Khối Bắc, xã Đức Châu, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Liên gặp một người đàn ông không quen biết, Liên hỏi người này: “Anh có ma túy Heroin bán không?”; Người này hỏi lại: “Em mua bao nhiêu?”; Liên trả lời: “Em muốn mua 1 triệu đồng?”, người đàn ông đồng ý rồi đi một lúc sau quay lại đưa cho Liên 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong chứa 03 (ba) gói ni lông màu đen, trong cùng đều chứa chất bột màu trắng và 01 (một) gói giấy màu trắng trong cùng chứa chất bột màu trắng. Liên đưa cho người này số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng và nhận ma túy. Sau đó, Liên bỏ các gói ma túy vào bên trong túi quần bên phải rồi đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn Liên đang trên đường đi về nhà tại khu vực nghĩa trang thuộc Khối Bắc, xã Đức Châu, tỉnh Nghệ An thì bị Phòng PC 08 Công an tỉnh Nghệ An phối hợp với Đoàn đặc nhiệm Phòng chống tội phạm ma túy số 2- Cảnh sát biển Việt Nam phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ bên trong túi quần bên phải của Liên đang mặc 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong chứa 03 (ba) gói ni lông màu đen, trong cùng đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) và 01 (một) gói giấy màu trắng trong cùng chứa chất bột màu trắng (Nghi là ma túy).

Vật chứng vụ án thu giữ:

- 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong chứa 03 (ba) gói ni lông màu đen, trong cùng đều chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1 đến M3) và 01 (một) gói giấy màu trắng trong cùng chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M4) có tổng khối lượng sau khi trừ bì là 0,475 (không phẩy bốn trăm bảy mươi lăm gam); Hội đồng đã lấy 0,475 (không phẩy bốn trăm bảy mươi lăm gam) gửi giám định;

- Vật chứng còn lại: 01 (một) vỏ gói ni lông màu trắng, 03 (ba) vỏ gói ni lông màu đen, 01 (một) vỏ gói giấy màu trắng và 01 (một) phong bì thư niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 (một) phong bì thư bưu điện.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 25/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và tại bản Kết luận giám định số 217/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 30/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận:

- Các mẫu vật (ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Nguyễn Văn Liên gửi đến giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine.

- Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Liên có tổng khối lượng là 0,475 gam (không phẩy bốn trăm bảy mươi lăm gam).

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-KV3 ngày 22/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn Liên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Liên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng.

Tịch thu và tiêu hủy:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong, dán kín. Trên mép dán có chữ lý của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An. Bên trong có túi niêm phong ban đầu vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Liên

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Liên khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 16 giờ ngày 25/6/2025, trên đoạn đường tại khu vực nghĩa trang thuộc Khối Bắc, xã Đức Châu, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Liên đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,475 gam (không phẩy bốn trăm bảy mươi lăm) gam ma túy Heroine (Heroin) với mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Liên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, do bị cáo phạm tội 25/6/2025 trước ngày Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) có hiệu lực nên cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.

. Xét tính chất, nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý Nhà nước về phòng chống ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội. Ma túy đã và đang trở thành hiểm hoạ lớn của nhân loại; trở thành vấn đề nhức nhối trong đời sống cộng đồng. Ma túy đã hủy hoại đời sống con người, làm suy thoái nòi giống, làm xói mòn các giá trị văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự mặc dù vậy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,475g (không phẩy bốn trăm bảy mươi lăm) gam đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét.

Đối với 01 phong bì thư được niêm phong, dán kín. Trên mép dán có chữ lý của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An. Bên trong có túi niêm phong ban đầu vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Liên hiện không còn giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy.

. Vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Liên tại khu vực nghĩa trang thuộc Khối Bắc, xã Đức Châu, tỉnh Nghệ An (theo lời khai của Nguyễn Văn Liên); do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra xác minh.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Liên 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/6/2025.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong, dán kín. Trên mép dán có chữ lý của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An. Bên trong có túi niêm phong ban đầu vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Liên

(Vật chứng trên có tại phòng thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 /9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và phong thi hành án dân sự khu vực 3 - tỉnh Nghệ An)

3.Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Liên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có mặt quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ